Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Cần cân bằng giữa STEM và khoa học xã hội - nhân văn

2026/05/19 14:50

GD&TĐ - Học sinh nghiêng về khoa học xã hội trong khi Việt Nam cần công nghệ, buộc giáo dục phải cân bằng STEM và nhân văn.


Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào AI, bán dẫn và chuyển đổi số, nhưng ở giáo dục phổ thông, học sinh vẫn chủ yếu chọn các môn khoa học xã hội để học và thi thay vì khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
Khoảng cách giữa chiến lược quốc gia và lựa chọn học đường đang đặt ra bài toán lớn về nguồn nhân lực tương lai.

Khi lựa chọn môn học phản ánh một “logic an toàn”

Từ kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, thí sinh thi 4 môn gồm Toán, Ngữ văn và 2 môn tự chọn trong số các môn học còn lại. Các môn tự chọn được chia thành 3 nhóm: khoa học xã hội - Sử, Địa, GDKT&PL; khoa học tự nhiên - công nghệ - Lý, Hóa, Sinh, Tin học, Công nghệ; và Ngoại ngữ.
Cơ cấu lựa chọn này phản ánh khá rõ xu hướng học sinh nghiêng về KHXH, STEM hay ngoại ngữ, đồng thời sẽ tác động trực tiếp đến cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam trong 5-10 năm tới.
Số liệu năm 2026 cho thấy nhóm khoa học tự nhiên - công nghệ (KHTN-CN) đang có tín hiệu tăng tích cực. Tổng số bài thi nhóm này dự kiến tăng từ 705.773 lên 771.083 bài, tăng 9,25%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng bài thi tự chọn là 4,82%. Tỷ trọng bài thi nhóm KHTN-CN cũng tăng từ 30,53% lên 31,83% trong tổng số bài thi tự chọn.
Trong các môn STEM, Vật lý tăng số lượng gần 10% so với năm trước, Hóa học tăng gần 3%. Đáng chú ý, các môn công nghệ tăng rất mạnh dù quy mô còn nhỏ: Tin học tăng hơn 142%, Công nghệ công nghiệp tăng hơn 204%, Công nghệ nông nghiệp tăng hơn 41%. Điều này cho thấy học sinh bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các lĩnh vực STEM, gắn với AI, bán dẫn, chuyển đổi số và kỹ thuật công nghệ cao.
Học sinh tham gia ngày hội STEM Day tại Trường Đại học Việt Đức. Ảnh: Hà An.

Tuy vậy, xu hướng này vẫn chưa tạo ra chuyển biến lớn. Nhóm KHXH vẫn chiếm ưu thế với 53,83% trong tổng số bài thi tự chọn. Đặc biệt, Sinh học năm 2026 giảm thêm 3,26% so với năm 2025 cho thấy nghịch lý, khi công nghệ sinh học được xem là ngành chiến lược của thế kỷ XXI nhưng chưa thu hút được nhiều học sinh.
Đáng chú ý hơn cả là Ngoại ngữ giảm khá rõ. Năm 2026 chỉ còn 347.455 thí sinh đăng ký, giảm 17.524 em so với năm trước; tỷ trọng bài thi giảm từ 15,79% xuống 14,34%. Đây là tín hiệu cần lưu ý, bởi ngoại ngữ - nhất là tiếng Anh - chính là chìa khóa để tiếp cận tri thức STEM toàn cầu. Nếu học sinh quan tâm hơn đến công nghệ nhưng lại giảm đầu tư vào ngoại ngữ, thì năng lực hội nhập và tiếp cận khoa học hiện đại sẽ là một thách thức lớn.
Nhìn tổng thể, sự phân bố ba nhóm môn trong tổng số các bài thi tự chọn cho thấy học sinh vẫn nghiêng về “sự an toàn, ít rủi ro” khi tỷ lệ bài thi KHXH vẫn ở mức trên 50%. Số bài KHTN-CN năm 2026 có tăng nhưng chưa mạnh, còn ngoại ngữ giảm rõ rệt.
Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD&ĐT và tính toán của tác giả.




Nghịch lý của một quốc gia muốn đi lên bằng công nghệ

Điều đáng nói là trong khi xu hướng lựa chọn của học sinh đang dịch chuyển theo hướng KHXH, thì định hướng phát triển quốc gia lại đi theo chiều ngược lại: tăng tốc vào công nghệ cao, AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, vật liệu mới, sinh học lượng tử và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Hai dòng chảy này - một từ trên xuống và một từ dưới lên - đang chưa gặp nhau ở cùng một điểm.
Một quốc gia muốn phát triển công nghệ không thể chỉ dựa vào trung tâm nghiên cứu hay các trường đại học mạnh. Nền tảng thực sự phải được xây dựng từ giáo dục phổ thông, nơi hình thành tư duy khoa học, khả năng ngoại ngữ và quyết tâm tiếp cận tri thức.
Và mới đây, ngày 10/4/2026, khi thảo luận ở Quốc hội, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh: muốn có nhân lực chất lượng cao ở đại học và nghề nghiệp, gốc vẫn là giáo dục phổ thông.
Nếu học sinh ngày càng tránh xa Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học và tiếng Anh, thì khoảng cách giữa mục tiêu quốc gia và năng lực xã hội sẽ ngày càng lớn. Đây không chỉ là câu chuyện giáo dục, mà là câu chuyện của nguồn nhân lực tương lai.
Thực tế, Việt Nam không thiếu những học sinh xuất sắc trong các kỳ thi quốc tế ở các lĩnh vực về Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học...
Đồng thời, không thiếu những em đạt điểm cao ngoại ngữ hay giành giải thưởng học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Nhưng đó là thành tựu của nhóm tinh hoa, chứ không phải nền tảng đại trà.
Học sinh trải nghiệm nhóm ngành Truyền thông tại Trường Đại học Văn Lang. Ảnh: NTCC.

Vấn đề nằm ở chỗ: một nền giáo dục mạnh không thể chỉ dựa vào tinh hoa, mà nó phải kết hợp giữa “toàn dân và tinh hoa” như Nghị quyết số 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã khẳng định. Cần phải có một mặt bằng phổ thông đủ rộng, đủ dày và đủ vững.
Đặc biệt là ở cấp THCS, môn KHTN là môn học tích hợp, do thiếu giáo viên tích hợp nên nhiều trường học phải tổ chức cho ba giáo viên Lý, Hóa, Sinh cùng dạy và cùng kiểm tra, đánh giá, làm hạn chế sự hứng thú của học sinh về KHTN.
Ở nhiều nơi, việc học thí nghiệm, thực hành khoa học hay đọc tài liệu tiếng Anh chuyên sâu vẫn còn hạn chế, khiến STEM và ngoại ngữ trở thành “đường đua khó” dành cho số ít. Điều này tạo ra chênh lệch lớn giữa các địa phương.
Năm 2025, TPHCM (cũ) nổi bật với tỷ lệ học sinh chọn Vật lý 44%, Hóa học 28%, Tiếng Anh 50%, trong khi Lịch sử và Địa lý chỉ khoảng 25-26%.
Ngược lại, một tỉnh miền Trung có tỷ lệ chọn KHXH rất cao: Lịch sử 44,83%, Địa lý 38,63%, GDKT&PL 29,07%, còn Tiếng Anh chỉ đạt 24,67%.

Cấu trúc thi cử định hình lựa chọn của học sinh

Không thể chỉ nhìn xu hướng này như lựa chọn cá nhân của học sinh. Cấu trúc hệ thống thi cử và tuyển sinh đại học cũng đóng vai trò rất lớn.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT rất quan trọng chủ yếu tập trung 3 môn Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ, dẫn đến học sinh không đầu tư nhiều cho KHTN và công nghệ.
Trong khi kỳ thi tốt nghiệp THPT được thiết kế theo hướng giảm áp lực và tăng quyền lựa chọn môn học, học sinh tự nhiên sẽ chọn những môn ít rủi ro hơn. Khi các phương thức xét tuyển đại học ngày càng đa dạng, nhiều ngành không còn yêu cầu chặt chẽ về tổ hợp KHTN, mà xuất hiện nhiều “tổ hợp lạ”, thì động lực học STEM càng giảm.
Trong logic đó, học để “đạt điểm tốt” dần thay thế học để “xây nền tảng nghề nghiệp dài hạn”. Và khi hệ thống khuyến khích sự linh hoạt, nó cũng vô tình tạo ra sự phân tán trong lựa chọn môn học.
Học sinh TPHCM tham gia sân chơi về lập trình máy bay không người lái. Ảnh: Hà An.

Câu chuyện của Hàn Quốc cho thấy một thực tế rất rõ: không thể trở thành cường quốc công nghệ nếu STEM không giữ vị trí trung tâm trong giáo dục phổ thông. Đằng sau sự phát triển của các tập đoàn công nghệ như Samsung, SK Hynix, LG hay Hyundai Motor Group... là một hệ thống giáo dục coi trọng Toán, Khoa học, tiếng Anh ngay từ phổ thông.
Ở Hàn Quốc, học tốt STEM gần như đồng nghĩa với nhiều cơ hội hơn để vào đại học danh tiếng, tiếp cận ngành nghề thu nhập cao và tham gia các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Thế nhưng, Hàn Quốc không chỉ thành công về công nghệ. Quốc gia này còn tạo ra những thành tựu văn hóa có sức ảnh hưởng toàn cầu như bộ phim Parasite (Ký sinh trùng) đoạt Oscar năm 2020, series Squid Game gây tiếng vang quốc tế hay nhóm nhạc BTS trở thành biểu tượng văn hóa toàn cầu. Văn học Hàn Quốc cũng ghi dấu ấn khi nữ nhà văn Han Kang giành Nobel Văn chương năm 2024.
Điều đó cho thấy một xã hội càng hiện đại hóa mạnh mẽ càng cần nền tảng văn hóa và nhân văn vững chắc. Công nghệ có thể tạo ra sức mạnh kinh tế, nhưng chính văn hóa và khả năng kể câu chuyện của dân tộc mới tạo nên sức mạnh mềm và bản sắc quốc gia.

Giải pháp để học sinh chọn môn học và thi hài hòa nguồn nhân lực

Vấn đề hiện nay không phải học sinh chọn KHXH nhiều hơn STEM, mà là làm sao tạo được sự cân bằng hợp lý giữa các nhóm môn học để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Về lâu dài, Bộ GD&ĐT cần xây dựng chiến lược điều tiết cơ cấu môn học, ngoài 4 môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và Sử, học sinh chọn tổ hợp các môn học hài hòa hơn, phù hợp với định hướng phát triển của đất nước. Chẳng hạn, trên phạm vi toàn quốc có khoảng 40-50% KHXH, 50-60% KHTN-CN. Đây không chỉ là bài toán chọn tổ hợp môn học và thi cử mà là định hướng nguồn nhân lực quốc gia trong 10-15 năm tới.
Để thực hiện điều đó, Bộ GD&ĐT cần tiếp tục đổi mới chương trình, kiểm tra và tuyển sinh lớp 10 theo hướng tăng giá trị thực tiễn của STEM và ngoại ngữ, đồng thời bảo đảm vai trò nền tảng của KHXH trong việc hình thành tư duy, văn hóa và trách nhiệm công dân.
Các sở GD&ĐT cần đầu tư đồng đều hơn cho các trường về đội ngũ giáo viên giỏi, đầu tư phòng thí nghiệm, thực hành, dạy học ngoại ngữ và chuyển đổi số, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi để học sinh có cơ hội tiếp cận STEM công bằng hơn.
Sinh viên Trường Đại học Văn Hiến. Ảnh minh họa: NTCC.

Quan trọng nhất là ở cấp THCS và THPT, nơi trực tiếp định hình lựa chọn của học sinh. Các trường cần tăng cường hướng nghiệp sớm, tư vấn lựa chọn môn học dựa trên năng lực, sở trường và nhu cầu phát triển đất nước thay vì chạy theo tâm lý “dễ học, dễ thi”.
Việc dạy học STEM cũng phải gắn với trải nghiệm, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để tạo hứng thú thực sự cho học sinh. Đồng thời, giáo dục KHXH cần đổi mới theo hướng hiện đại, giàu tính phản biện và nhân văn, giúp học sinh hiểu lịch sử, văn hóa, xã hội và trách nhiệm công dân trong thời đại số.
Một quốc gia muốn trở thành cường quốc khoa học - công nghệ không thể chỉ dựa vào một nhóm nhỏ nhân tài STEM, mà cần phổ cập tư duy khoa học, năng lực số và ngoại ngữ cho số đông học sinh. Nhưng một xã hội chỉ mạnh công nghệ mà thiếu nền tảng nhân văn cũng khó phát triển bền vững.
Vì vậy, mục tiêu của giáo dục phổ thông Việt Nam không phải chọn STEM hay KHXH, mà là xây dựng một thế hệ công dân vừa có năng lực khoa học - công nghệ, vừa có chiều sâu văn hóa, trách nhiệm xã hội và bản lĩnh hội nhập trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Học sinh THPT tìm hiểu ngành, nghề trong một ngày hội tư vấn tuyển sinh năm 2026 tại TPHCM. Ảnh: HCMUT.

Việt Nam đang đặt nhiều kỳ vọng vào AI, bán dẫn và chuyển đổi số, nhưng ở giáo dục phổ thông, học sinh vẫn chủ yếu chọn các môn khoa học xã hội để học và thi thay vì khoa học tự nhiên và ngoại ngữ.
Khoảng cách giữa chiến lược quốc gia và lựa chọn học đường đang đặt ra bài toán lớn về nguồn nhân lực tương lai.

Khi lựa chọn môn học phản ánh một “logic an toàn”

Từ kỳ thi tốt nghiệp THPT 2025, thí sinh thi 4 môn gồm Toán, Ngữ văn và 2 môn tự chọn trong số các môn học còn lại. Các môn tự chọn được chia thành 3 nhóm: khoa học xã hội - Sử, Địa, GDKT&PL; khoa học tự nhiên - công nghệ - Lý, Hóa, Sinh, Tin học, Công nghệ; và Ngoại ngữ.
Cơ cấu lựa chọn này phản ánh khá rõ xu hướng học sinh nghiêng về KHXH, STEM hay ngoại ngữ, đồng thời sẽ tác động trực tiếp đến cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam trong 5-10 năm tới.
Số liệu năm 2026 cho thấy nhóm khoa học tự nhiên - công nghệ (KHTN-CN) đang có tín hiệu tăng tích cực. Tổng số bài thi nhóm này dự kiến tăng từ 705.773 lên 771.083 bài, tăng 9,25%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng bài thi tự chọn là 4,82%. Tỷ trọng bài thi nhóm KHTN-CN cũng tăng từ 30,53% lên 31,83% trong tổng số bài thi tự chọn.
Trong các môn STEM, Vật lý tăng số lượng gần 10% so với năm trước, Hóa học tăng gần 3%. Đáng chú ý, các môn công nghệ tăng rất mạnh dù quy mô còn nhỏ: Tin học tăng hơn 142%, Công nghệ công nghiệp tăng hơn 204%, Công nghệ nông nghiệp tăng hơn 41%. Điều này cho thấy học sinh bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các lĩnh vực STEM, gắn với AI, bán dẫn, chuyển đổi số và kỹ thuật công nghệ cao.
Học sinh tham gia ngày hội STEM Day tại Trường Đại học Việt Đức. Ảnh: Hà An.

Tuy vậy, xu hướng này vẫn chưa tạo ra chuyển biến lớn. Nhóm KHXH vẫn chiếm ưu thế với 53,83% trong tổng số bài thi tự chọn. Đặc biệt, Sinh học năm 2026 giảm thêm 3,26% so với năm 2025 cho thấy nghịch lý, khi công nghệ sinh học được xem là ngành chiến lược của thế kỷ XXI nhưng chưa thu hút được nhiều học sinh.
Đáng chú ý hơn cả là Ngoại ngữ giảm khá rõ. Năm 2026 chỉ còn 347.455 thí sinh đăng ký, giảm 17.524 em so với năm trước; tỷ trọng bài thi giảm từ 15,79% xuống 14,34%. Đây là tín hiệu cần lưu ý, bởi ngoại ngữ - nhất là tiếng Anh - chính là chìa khóa để tiếp cận tri thức STEM toàn cầu. Nếu học sinh quan tâm hơn đến công nghệ nhưng lại giảm đầu tư vào ngoại ngữ, thì năng lực hội nhập và tiếp cận khoa học hiện đại sẽ là một thách thức lớn.
Nhìn tổng thể, sự phân bố ba nhóm môn trong tổng số các bài thi tự chọn cho thấy học sinh vẫn nghiêng về “sự an toàn, ít rủi ro” khi tỷ lệ bài thi KHXH vẫn ở mức trên 50%. Số bài KHTN-CN năm 2026 có tăng nhưng chưa mạnh, còn ngoại ngữ giảm rõ rệt.
Nguồn: Số liệu công bố của Bộ GD&ĐT và tính toán của tác giả.




Nghịch lý của một quốc gia muốn đi lên bằng công nghệ

Điều đáng nói là trong khi xu hướng lựa chọn của học sinh đang dịch chuyển theo hướng KHXH, thì định hướng phát triển quốc gia lại đi theo chiều ngược lại: tăng tốc vào công nghệ cao, AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, vật liệu mới, sinh học lượng tử và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Hai dòng chảy này - một từ trên xuống và một từ dưới lên - đang chưa gặp nhau ở cùng một điểm.
Một quốc gia muốn phát triển công nghệ không thể chỉ dựa vào trung tâm nghiên cứu hay các trường đại học mạnh. Nền tảng thực sự phải được xây dựng từ giáo dục phổ thông, nơi hình thành tư duy khoa học, khả năng ngoại ngữ và quyết tâm tiếp cận tri thức.
Và mới đây, ngày 10/4/2026, khi thảo luận ở Quốc hội, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh: muốn có nhân lực chất lượng cao ở đại học và nghề nghiệp, gốc vẫn là giáo dục phổ thông.
Nếu học sinh ngày càng tránh xa Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học và tiếng Anh, thì khoảng cách giữa mục tiêu quốc gia và năng lực xã hội sẽ ngày càng lớn. Đây không chỉ là câu chuyện giáo dục, mà là câu chuyện của nguồn nhân lực tương lai.
Thực tế, Việt Nam không thiếu những học sinh xuất sắc trong các kỳ thi quốc tế ở các lĩnh vực về Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học...
Đồng thời, không thiếu những em đạt điểm cao ngoại ngữ hay giành giải thưởng học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Nhưng đó là thành tựu của nhóm tinh hoa, chứ không phải nền tảng đại trà.
Học sinh trải nghiệm nhóm ngành Truyền thông tại Trường Đại học Văn Lang. Ảnh: NTCC.

Vấn đề nằm ở chỗ: một nền giáo dục mạnh không thể chỉ dựa vào tinh hoa, mà nó phải kết hợp giữa “toàn dân và tinh hoa” như Nghị quyết số 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đã khẳng định. Cần phải có một mặt bằng phổ thông đủ rộng, đủ dày và đủ vững.
Đặc biệt là ở cấp THCS, môn KHTN là môn học tích hợp, do thiếu giáo viên tích hợp nên nhiều trường học phải tổ chức cho ba giáo viên Lý, Hóa, Sinh cùng dạy và cùng kiểm tra, đánh giá, làm hạn chế sự hứng thú của học sinh về KHTN.
Ở nhiều nơi, việc học thí nghiệm, thực hành khoa học hay đọc tài liệu tiếng Anh chuyên sâu vẫn còn hạn chế, khiến STEM và ngoại ngữ trở thành “đường đua khó” dành cho số ít. Điều này tạo ra chênh lệch lớn giữa các địa phương.
Năm 2025, TPHCM (cũ) nổi bật với tỷ lệ học sinh chọn Vật lý 44%, Hóa học 28%, Tiếng Anh 50%, trong khi Lịch sử và Địa lý chỉ khoảng 25-26%.
Ngược lại, một tỉnh miền Trung có tỷ lệ chọn KHXH rất cao: Lịch sử 44,83%, Địa lý 38,63%, GDKT&PL 29,07%, còn Tiếng Anh chỉ đạt 24,67%.

Cấu trúc thi cử định hình lựa chọn của học sinh

Không thể chỉ nhìn xu hướng này như lựa chọn cá nhân của học sinh. Cấu trúc hệ thống thi cử và tuyển sinh đại học cũng đóng vai trò rất lớn.
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT rất quan trọng chủ yếu tập trung 3 môn Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ, dẫn đến học sinh không đầu tư nhiều cho KHTN và công nghệ.
Trong khi kỳ thi tốt nghiệp THPT được thiết kế theo hướng giảm áp lực và tăng quyền lựa chọn môn học, học sinh tự nhiên sẽ chọn những môn ít rủi ro hơn. Khi các phương thức xét tuyển đại học ngày càng đa dạng, nhiều ngành không còn yêu cầu chặt chẽ về tổ hợp KHTN, mà xuất hiện nhiều “tổ hợp lạ”, thì động lực học STEM càng giảm.
Trong logic đó, học để “đạt điểm tốt” dần thay thế học để “xây nền tảng nghề nghiệp dài hạn”. Và khi hệ thống khuyến khích sự linh hoạt, nó cũng vô tình tạo ra sự phân tán trong lựa chọn môn học.
Học sinh TPHCM tham gia sân chơi về lập trình máy bay không người lái. Ảnh: Hà An.

Câu chuyện của Hàn Quốc cho thấy một thực tế rất rõ: không thể trở thành cường quốc công nghệ nếu STEM không giữ vị trí trung tâm trong giáo dục phổ thông. Đằng sau sự phát triển của các tập đoàn công nghệ như Samsung, SK Hynix, LG hay Hyundai Motor Group... là một hệ thống giáo dục coi trọng Toán, Khoa học, tiếng Anh ngay từ phổ thông.
Ở Hàn Quốc, học tốt STEM gần như đồng nghĩa với nhiều cơ hội hơn để vào đại học danh tiếng, tiếp cận ngành nghề thu nhập cao và tham gia các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn.
Thế nhưng, Hàn Quốc không chỉ thành công về công nghệ. Quốc gia này còn tạo ra những thành tựu văn hóa có sức ảnh hưởng toàn cầu như bộ phim Parasite (Ký sinh trùng) đoạt Oscar năm 2020, series Squid Game gây tiếng vang quốc tế hay nhóm nhạc BTS trở thành biểu tượng văn hóa toàn cầu. Văn học Hàn Quốc cũng ghi dấu ấn khi nữ nhà văn Han Kang giành Nobel Văn chương năm 2024.
Điều đó cho thấy một xã hội càng hiện đại hóa mạnh mẽ càng cần nền tảng văn hóa và nhân văn vững chắc. Công nghệ có thể tạo ra sức mạnh kinh tế, nhưng chính văn hóa và khả năng kể câu chuyện của dân tộc mới tạo nên sức mạnh mềm và bản sắc quốc gia.

Giải pháp để học sinh chọn môn học và thi hài hòa nguồn nhân lực

Vấn đề hiện nay không phải học sinh chọn KHXH nhiều hơn STEM, mà là làm sao tạo được sự cân bằng hợp lý giữa các nhóm môn học để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Về lâu dài, Bộ GD&ĐT cần xây dựng chiến lược điều tiết cơ cấu môn học, ngoài 4 môn bắt buộc là Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ và Sử, học sinh chọn tổ hợp các môn học hài hòa hơn, phù hợp với định hướng phát triển của đất nước. Chẳng hạn, trên phạm vi toàn quốc có khoảng 40-50% KHXH, 50-60% KHTN-CN. Đây không chỉ là bài toán chọn tổ hợp môn học và thi cử mà là định hướng nguồn nhân lực quốc gia trong 10-15 năm tới.
Để thực hiện điều đó, Bộ GD&ĐT cần tiếp tục đổi mới chương trình, kiểm tra và tuyển sinh lớp 10 theo hướng tăng giá trị thực tiễn của STEM và ngoại ngữ, đồng thời bảo đảm vai trò nền tảng của KHXH trong việc hình thành tư duy, văn hóa và trách nhiệm công dân.
Các sở GD&ĐT cần đầu tư đồng đều hơn cho các trường về đội ngũ giáo viên giỏi, đầu tư phòng thí nghiệm, thực hành, dạy học ngoại ngữ và chuyển đổi số, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi để học sinh có cơ hội tiếp cận STEM công bằng hơn.
Sinh viên Trường Đại học Văn Hiến. Ảnh minh họa: NTCC.

Quan trọng nhất là ở cấp THCS và THPT, nơi trực tiếp định hình lựa chọn của học sinh. Các trường cần tăng cường hướng nghiệp sớm, tư vấn lựa chọn môn học dựa trên năng lực, sở trường và nhu cầu phát triển đất nước thay vì chạy theo tâm lý “dễ học, dễ thi”.
Việc dạy học STEM cũng phải gắn với trải nghiệm, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo để tạo hứng thú thực sự cho học sinh. Đồng thời, giáo dục KHXH cần đổi mới theo hướng hiện đại, giàu tính phản biện và nhân văn, giúp học sinh hiểu lịch sử, văn hóa, xã hội và trách nhiệm công dân trong thời đại số.
Một quốc gia muốn trở thành cường quốc khoa học - công nghệ không thể chỉ dựa vào một nhóm nhỏ nhân tài STEM, mà cần phổ cập tư duy khoa học, năng lực số và ngoại ngữ cho số đông học sinh. Nhưng một xã hội chỉ mạnh công nghệ mà thiếu nền tảng nhân văn cũng khó phát triển bền vững.
Vì vậy, mục tiêu của giáo dục phổ thông Việt Nam không phải chọn STEM hay KHXH, mà là xây dựng một thế hệ công dân vừa có năng lực khoa học - công nghệ, vừa có chiều sâu văn hóa, trách nhiệm xã hội và bản lĩnh hội nhập trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
Chia sẻ
STEMkhoa học xã hộinhân văngiáo dụcphát triển
Theo Hồ Sỹ Anh
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/05/18 15:53 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Rõ mục tiêu, đúng đối tượng trong giáo dục tăng cường và theo nhu cầu người học
Giáo dục - Học đường

Rõ mục tiêu, đúng đối tượng trong giáo dục tăng cường và theo nhu cầu người học

Bước chuyển từ học ngoại ngữ sang sử dụng ngoại ngữ để học tập
Giáo dục - Học đường

Bước chuyển từ học ngoại ngữ sang sử dụng ngoại ngữ để học tập

Đề xuất chính sách phù hợp với cán bộ quản lý trường học sau sắp xếp
Giáo dục - Học đường

Đề xuất chính sách phù hợp với cán bộ quản lý trường học sau sắp xếp

Nghị quyết số 71-NQ/TW tạo cú hích phát triển giáo dục - đào tạo Nghệ An
Giáo dục - Học đường

Nghị quyết số 71-NQ/TW tạo cú hích phát triển giáo dục - đào tạo Nghệ An

Giáo dục nghề nghiệp cần gắn chuyển đổi số với nhu cầu thị trường lao động
Giáo dục - Học đường

Giáo dục nghề nghiệp cần gắn chuyển đổi số với nhu cầu thị trường lao động

TPHCM có 2.462 cán bộ quản lý chuyển sang làm giáo viên sau sắp xếp
Giáo dục - Học đường

TPHCM có 2.462 cán bộ quản lý chuyển sang làm giáo viên sau sắp xếp

Mới nhất

2026-10-19 10:17

Thanh Hóa thúc đẩy ứng dụng AI trong dạy và học

GD&TĐ - Chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cách làm mới trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục tại Thanh Hóa.

Thanh Hóa thúc đẩy ứng dụng AI trong dạy và học
2026-10-19 10:13

Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ để giải quyết các bài toán từ thực tiễn

GD&TĐ - Theo các chuyên gia, cần chuyển từ đào tạo nhân lực làm chủ kỹ thuật sang tạo ra tri thức, công nghệ mới và giải quyết các bài toán lớn từ thực tiễn.

Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ để giải quyết các bài toán từ thực tiễn
2026-10-19 10:10

Được tiếp sức học nghề tại KGC, chàng trai vươn lên thành trụ cột gia đình

GD&TĐ - Sau gần 3 năm học tập với sự tiếp sức của Trường Cao đẳng Kiên Giang, Danh Thanh Long vượt khó lập nghiệp, trở thành trụ cột kinh tế gia đình.

Được tiếp sức học nghề tại KGC, chàng trai vươn lên thành trụ cột gia đình
2026-10-19 10:08

Đổi mới tuyển sinh ngành Sư phạm: Lọc tâm lý đầu vào, đo lường thực chất

GD&TĐ - Đánh giá tâm lý sư phạm đầu vào và kiểm định thực chất đầu ra là giải pháp trọng tâm nâng cao chất lượng nhân sự ngành sư phạm.

Đổi mới tuyển sinh ngành Sư phạm: Lọc tâm lý đầu vào, đo lường thực chất
2026-10-19 10:07

Tuyển sinh, đào tạo Ngành công nghệ chiến lược - STEM: Nơi tạo ra tri thức và công nghệ lõi

GD&TĐ - Công nghệ ngày càng trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia.

Tuyển sinh, đào tạo Ngành công nghệ chiến lược - STEM: Nơi tạo ra tri thức và công nghệ lõi
2026-10-19 09:21

Tại sao trẻ vị thành niên 'ghét' cha mẹ?

GD&TĐ - Một đứa trẻ liên tục chống đối, nổi giận hay nói rằng 'ghét bố mẹ' không phải lúc nào cũng chỉ là sự bướng bỉnh của tuổi mới lớn.

Tại sao trẻ vị thành niên 'ghét' cha mẹ?
2026-10-19 09:20

Từng bước đưa tiếng Anh vào dạy môn Hóa học

GD&TĐ - Chuyên gia, cán bộ quản lý, giáo viên Cần Thơ chia sẻ sử dụng tiếng Anh trong dạy học Hóa học và bồi dưỡng HS giỏi Hóa học bằng tiếng Anh.

Từng bước đưa tiếng Anh vào dạy môn Hóa học
2026-10-19 09:19

'Sinh viên thế hệ mới 2026' lộ diện nhiều ý tưởng độc đáo, bất ngờ

GD&TĐ - Vào 21h30 ngày 17/10, mùa 4 "Sinh viên thế hệ mới 2026" chính thức trở lại với khán giả VTV3. Điểm nhấn ở tập đầu tiên là không khí trẻ trung và tinh thần sẵn sàng chinh phục của các bạn trẻ, hứa hẹn tạo nên sự bất ngờ.

'Sinh viên thế hệ mới 2026' lộ diện nhiều ý tưởng độc đáo, bất ngờ
2026-10-19 09:19

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Giáo dục đại học cần chuyển động từ EMI

GD&TĐ - Nhiều yêu cầu đặt ra để thúc đẩy giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh, hướng đến đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Giáo dục đại học cần chuyển động từ EMI
2026-10-19 09:18

An Giang tổng kết trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026

GD&TĐ - Thư viện tỉnh An Giang trao khen thưởng 3 tập thể và 74 cá nhân đạt giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026.

An Giang tổng kết trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc năm 2026