Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Chính sách giáo dục có hiệu lực từ tháng 2 năm 2026

2026/03/05 13:41

GD&TĐ - Các chính sách giáo dục có hiệu lực từ tháng 2/2026 liên quan đến tuyển sinh đại học, chế độ làm việc đối với nhà giáo.



Quy chế tuyển sinh đại học và ngành giáo dục mầm non

Bộ GD&ĐT công bố Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh các ngành đào tạo trình độ đại học và ngành Giáo dục Mầm non trình độ cao đẳng (Quy chế tuyển sinh). Thông tư này có hiệu lực từ 15/2/2026.
Quy chế ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT có một số điểm mới đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, nguồn tuyển là thí sinh có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn Toán và Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 15 theo thang điểm 30 (không áp dụng với thí sinh đặc cách hoặc được miễn thi tốt nghiệp).
Thứ hai, thí sinh đăng ký tối đa 15 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo, các trường khác nhau và sắp xếp các nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp (nguyện vọng 1 là thứ tự ưu tiên cao nhất). Các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển các nguyện vọng có thứ tự từ 1 đến 5.
Thứ ba, phương thức xét tuyển dựa trên kết quả học tập cấp THPT (học bạ), tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập 6 học kỳ (lớp 10, 11, 12) cấp THPT của tối thiểu 3 môn học; trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn đóng góp tối thiểu 1/3 trọng số tính điểm xét trong tổ hợp xét tuyển.
Thứ tư, điểm cộng (bao gồm điểm thưởng, điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) tối đa là 3 điểm theo thang điểm 30 (tương ứng 10% của thang điểm xét tuyển), trong đó: Điểm thưởng đối với thí sinh được tuyển thẳng nhưng không dùng để xét tuyển thẳng từ 0 - 3; Điểm xét thưởng đối với thí sinh có thành tích hoặc có năng khiếu đặc biệt từ 0 - 1,5; Điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế (nếu có) từ 0 - 1,5. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho điểm khuyến khích.
Thứ năm, bổ sung đối tượng xét tuyển trung học nghề, người nước ngoài đăng ký xét tuyển vào các chương trình đào tạo trình độ đại học.
Giáo viên giáo dục thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ trong dạy học.


Chế độ làm việc đối với giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên. Thông tư có hiệu lực từ 10/2/2026.
Thông tư mới là văn bản đầu tiên xây dựng quy định riêng đối với giáo viên giáo dục thường xuyên, phù hợp hơn với tính chất công việc đa dạng của lĩnh vực này.
Theo Thông tư, giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên không bị giới hạn chỉ kiêm nhiệm tối đa 2 nhiệm vụ như giáo viên phổ thông, do đặc thù phải đảm nhận nhiều công việc như quản lý nhiều lớp với độ tuổi, quy mô, hình thức học tập khác nhau, thực hiện công tác tuyển sinh liên tục, thực hiện nhiệm vụ của các phòng ban, linh hoạt hoạt động giảng dạy, giáo dục theo nhu cầu học tập của người học, tư vấn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho học viên.
Để bảo đảm chất lượng giảng dạy, giáo dục của giáo viên và bảo đảm chi trả các chế độ, chính sách đối với nhà giáo, Thông tư quy định tổng số tiết được giảm và quy đổi đối với các nhiệm vụ kiêm nhiệm trong một năm học không vượt quá 50% định mức tiết dạy trong một năm học của giáo viên.
Người đứng đầu cơ sở giáo dục thường xuyên được tăng quyền chủ động trong phân công, quy đổi nhiệm vụ phù hợp thực tế hoạt động. Quy định mới hướng tới phân công công việc công bằng hơn, đồng thời bảo đảm giáo viên tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy.
Do đặc thù hoạt động liên tục của giáo dục thường xuyên, Thông tư không quy định cứng tổng số tuần làm việc trong năm học, giúp các cơ sở linh hoạt bố trí công việc.
Theo đó, thời gian nghỉ hè của giáo viên từ 4 đến 8 tuần, do cơ sở giáo dục quy định. Trong thời gian này, giáo viên có thể tham gia bồi dưỡng chuyên môn, tuyển sinh hoặc các nhiệm vụ cần thiết.
Đối với giám đốc, phó giám đốc, Thông tư không quy định thời gian nghỉ hè cố định; việc bố trí thời gian nghỉ do cơ sở giáo dục thường xuyên quy định và thực hiện linh hoạt. Quy định tương tự được áp dụng đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương.
Thông tư quy định định mức tiết dạy trung bình trong một tuần của giáo viên giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên là 17 tiết. Định mức tiết dạy trong một năm học của giám đốc là 8% và của phó giám đốc là 10% định mức tiết dạy trong một năm học của giáo viên giáo dục thường xuyên tương ứng với chương trình giảng dạy.
Thông tư cũng quy định cụ thể việc giảm định mức tiết dạy và quy đổi các hoạt động chuyên môn sang tiết giảng, giúp các cơ sở dễ triển khai và bảo đảm quyền lợi cho giáo viên.
Theo đó, giáo viên chủ nhiệm lớp học chương trình giáo dục thường xuyên được giảm 4 tiết/tuần. Giáo viên chủ nhiệm các lớp học khác được giảm từ 1 đến 4 tiết/tuần, mức giảm cụ thể do giám đốc quyết định.
Quy đổi 1 tiết dạy trực tiếp hoặc trực tuyến bằng 1 tiết định mức hoặc không quá 2 tiết định mức đối với các hoạt động chuyên môn cụ thể.
Đối với những nhiệm vụ chưa được quy định cụ thể, giám đốc cơ sở có thể quyết định mức quy đổi sau khi thống nhất với tập thể giáo viên và báo cáo cơ quan quản lý. Cách làm này tạo sự linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm minh bạch và phù hợp thực tiễn.


Quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 12/2/2026.
Theo Thông tư quy định, một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 1 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành (tích hợp) cho 1 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành cho 1 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên.
Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó: Một giờ giảng lý thuyết là 45 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy tích hợp là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy thực hành là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng là 44 tuần, bao gồm: 32 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 12 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ trung cấp là 44 tuần, bao gồm: 36 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 8 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp là 46 tuần, bao gồm: 42 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 4 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp là 46 tuần, bao gồm cả thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy bảo đảm định mức giờ chuẩn theo quy định.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng: từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ trung cấp: từ 400 đến 510 giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác: từ 450 đến 580 giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy các môn học chung trong một năm học là 450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và 510 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ trung cấp.
Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ (giữ chức danh giảng viên, giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp) như sau:
Hiệu trưởng, giám đốc: 8% định mức giờ chuẩn; Phó hiệu trưởng, phó giám đốc: 10% định mức giờ chuẩn; Trưởng phòng và tương đương: 14% định mức giờ chuẩn; Phó trưởng phòng và tương đương: 18% định mức giờ chuẩn; Nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ: 20% định mức giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.
Trong năm học, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy có tổng số giờ chuẩn vượt định mức giờ chuẩn quy định thì số giờ chuẩn vượt định mức được xác định là số giờ dạy thêm.
Tổng số giờ dạy thêm của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không vượt quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật.
Việc thanh toán tiền lương dạy thêm giờ được thực hiện theo quy định hiện hành.
Giờ học tại Trường ĐH Sư phạm (ĐH Đà Nẵng).


Quy chế tuyển sinh đại học và ngành giáo dục mầm non

Bộ GD&ĐT công bố Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh các ngành đào tạo trình độ đại học và ngành Giáo dục Mầm non trình độ cao đẳng (Quy chế tuyển sinh). Thông tư này có hiệu lực từ 15/2/2026.
Quy chế ban hành Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT có một số điểm mới đáng chú ý như sau:
Thứ nhất, nguồn tuyển là thí sinh có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn Toán và Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 15 theo thang điểm 30 (không áp dụng với thí sinh đặc cách hoặc được miễn thi tốt nghiệp).
Thứ hai, thí sinh đăng ký tối đa 15 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo, các trường khác nhau và sắp xếp các nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp (nguyện vọng 1 là thứ tự ưu tiên cao nhất). Các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển các nguyện vọng có thứ tự từ 1 đến 5.
Thứ ba, phương thức xét tuyển dựa trên kết quả học tập cấp THPT (học bạ), tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập 6 học kỳ (lớp 10, 11, 12) cấp THPT của tối thiểu 3 môn học; trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn đóng góp tối thiểu 1/3 trọng số tính điểm xét trong tổ hợp xét tuyển.
Thứ tư, điểm cộng (bao gồm điểm thưởng, điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) tối đa là 3 điểm theo thang điểm 30 (tương ứng 10% của thang điểm xét tuyển), trong đó: Điểm thưởng đối với thí sinh được tuyển thẳng nhưng không dùng để xét tuyển thẳng từ 0 - 3; Điểm xét thưởng đối với thí sinh có thành tích hoặc có năng khiếu đặc biệt từ 0 - 1,5; Điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế (nếu có) từ 0 - 1,5. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho điểm khuyến khích.
Thứ năm, bổ sung đối tượng xét tuyển trung học nghề, người nước ngoài đăng ký xét tuyển vào các chương trình đào tạo trình độ đại học.
Giáo viên giáo dục thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ trong dạy học.


Chế độ làm việc đối với giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên. Thông tư có hiệu lực từ 10/2/2026.
Thông tư mới là văn bản đầu tiên xây dựng quy định riêng đối với giáo viên giáo dục thường xuyên, phù hợp hơn với tính chất công việc đa dạng của lĩnh vực này.
Theo Thông tư, giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên không bị giới hạn chỉ kiêm nhiệm tối đa 2 nhiệm vụ như giáo viên phổ thông, do đặc thù phải đảm nhận nhiều công việc như quản lý nhiều lớp với độ tuổi, quy mô, hình thức học tập khác nhau, thực hiện công tác tuyển sinh liên tục, thực hiện nhiệm vụ của các phòng ban, linh hoạt hoạt động giảng dạy, giáo dục theo nhu cầu học tập của người học, tư vấn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho học viên.
Để bảo đảm chất lượng giảng dạy, giáo dục của giáo viên và bảo đảm chi trả các chế độ, chính sách đối với nhà giáo, Thông tư quy định tổng số tiết được giảm và quy đổi đối với các nhiệm vụ kiêm nhiệm trong một năm học không vượt quá 50% định mức tiết dạy trong một năm học của giáo viên.
Người đứng đầu cơ sở giáo dục thường xuyên được tăng quyền chủ động trong phân công, quy đổi nhiệm vụ phù hợp thực tế hoạt động. Quy định mới hướng tới phân công công việc công bằng hơn, đồng thời bảo đảm giáo viên tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy.
Do đặc thù hoạt động liên tục của giáo dục thường xuyên, Thông tư không quy định cứng tổng số tuần làm việc trong năm học, giúp các cơ sở linh hoạt bố trí công việc.
Theo đó, thời gian nghỉ hè của giáo viên từ 4 đến 8 tuần, do cơ sở giáo dục quy định. Trong thời gian này, giáo viên có thể tham gia bồi dưỡng chuyên môn, tuyển sinh hoặc các nhiệm vụ cần thiết.
Đối với giám đốc, phó giám đốc, Thông tư không quy định thời gian nghỉ hè cố định; việc bố trí thời gian nghỉ do cơ sở giáo dục thường xuyên quy định và thực hiện linh hoạt. Quy định tương tự được áp dụng đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương.
Thông tư quy định định mức tiết dạy trung bình trong một tuần của giáo viên giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên là 17 tiết. Định mức tiết dạy trong một năm học của giám đốc là 8% và của phó giám đốc là 10% định mức tiết dạy trong một năm học của giáo viên giáo dục thường xuyên tương ứng với chương trình giảng dạy.
Thông tư cũng quy định cụ thể việc giảm định mức tiết dạy và quy đổi các hoạt động chuyên môn sang tiết giảng, giúp các cơ sở dễ triển khai và bảo đảm quyền lợi cho giáo viên.
Theo đó, giáo viên chủ nhiệm lớp học chương trình giáo dục thường xuyên được giảm 4 tiết/tuần. Giáo viên chủ nhiệm các lớp học khác được giảm từ 1 đến 4 tiết/tuần, mức giảm cụ thể do giám đốc quyết định.
Quy đổi 1 tiết dạy trực tiếp hoặc trực tuyến bằng 1 tiết định mức hoặc không quá 2 tiết định mức đối với các hoạt động chuyên môn cụ thể.
Đối với những nhiệm vụ chưa được quy định cụ thể, giám đốc cơ sở có thể quyết định mức quy đổi sau khi thống nhất với tập thể giáo viên và báo cáo cơ quan quản lý. Cách làm này tạo sự linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm minh bạch và phù hợp thực tiễn.


Quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 12/2/2026.
Theo Thông tư quy định, một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 1 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành (tích hợp) cho 1 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành cho 1 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên.
Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó: Một giờ giảng lý thuyết là 45 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy tích hợp là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy thực hành là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng là 44 tuần, bao gồm: 32 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 12 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ trung cấp là 44 tuần, bao gồm: 36 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 8 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp là 46 tuần, bao gồm: 42 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 4 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.
Thời gian làm việc của nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp là 46 tuần, bao gồm cả thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy bảo đảm định mức giờ chuẩn theo quy định.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng: từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ trung cấp: từ 400 đến 510 giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác: từ 450 đến 580 giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy các môn học chung trong một năm học là 450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và 510 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ trung cấp.
Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ (giữ chức danh giảng viên, giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp) như sau:
Hiệu trưởng, giám đốc: 8% định mức giờ chuẩn; Phó hiệu trưởng, phó giám đốc: 10% định mức giờ chuẩn; Trưởng phòng và tương đương: 14% định mức giờ chuẩn; Phó trưởng phòng và tương đương: 18% định mức giờ chuẩn; Nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ: 20% định mức giờ chuẩn.
Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.
Trong năm học, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy có tổng số giờ chuẩn vượt định mức giờ chuẩn quy định thì số giờ chuẩn vượt định mức được xác định là số giờ dạy thêm.
Tổng số giờ dạy thêm của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không vượt quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật.
Việc thanh toán tiền lương dạy thêm giờ được thực hiện theo quy định hiện hành.
Chia sẻ
Chính sách giáo dục có hiệu lực từ tháng 2/2026chính sách giáo dục
Theo Hải Bình t/h
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/02/27 15:56 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia
Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập
Giáo dục - Học đường

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc
Giáo dục - Học đường

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
Giáo dục - Học đường

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
Giáo dục - Học đường

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học
Giáo dục - Học đường

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học

Mới nhất

2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
2026-10-17 10:05

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam

GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam
2026-10-17 10:03

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh

GD&TĐ - Quảng Trị tập trung nguồn lực xây dựng 15 trường học vùng biên giới, 4 trường phổ thông nội trú giai đoạn 1 được đẩy nhanh để đưa vào sử dụng.

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh
2026-10-17 10:03

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo

GD&TĐ - Việc đầu tư thiết bị đào tạo tại vùng ven đô Tây Ninh luôn lấy người học làm trung tâm để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo
2026-10-17 10:02

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026

GD&TĐ - Tối 16/10, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Quang Hưng dự lễ trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng năm 2026.

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026