Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Giờ học môn Tiếng Anh của cô và trò Trường THCS Bế Văn Đàn (quận Đống Đa, Hà Nội). Ảnh: INT

Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học: Có cần SGK song ngữ?

2025/05/20 10:10

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT đang tích cực xây dựng Đề án quốc gia, thực hiện nhiệm vụ đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.


Về giải pháp thực hiện, có ý kiến cho rằng nên thiết kế sách giáo khoa song ngữ cho cả học sinh và giáo viên.

Cần thiết, nhưng chỉ ở giai đoạn đầu

Ủng hộ việc có sách giáo khoa song ngữ trong dạy học tiếng Anh, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, sách song ngữ giúp học sinh làm quen với thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh từ sớm. Được tiếp xúc song song tiếng Việt và tiếng Anh giúp người học tăng khả năng đọc hiểu, tư duy bằng ngoại ngữ.
Sách giáo khoa song ngữ cũng hỗ trợ học sinh Việt kiều, học sinh nước ngoài tại Việt Nam học tập trong môi trường linh hoạt ngôn ngữ hơn. Bên cạnh đó, nhiều trường học tại Việt Nam đang dạy các chương trình tích hợp (song ngữ, quốc tế), nhưng tài liệu học tập còn thiếu hoặc phụ thuộc vào sách nước ngoài. Làm sách giáo khoa song ngữ giúp chuẩn hóa, tiết kiệm và phù hợp hơn với văn hóa Việt.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, thách thức khi làm sách giáo khoa song ngữ chủ yếu ở chi phí và nguồn lực. Do vậy, nên tiếp cận từng bước và áp dụng dần dần. Chẳng hạn làm sách song ngữ cho các môn Toán, Khoa học, Tin học (những môn có nội dung dễ tiếp cận bằng tiếng Anh) trước; áp dụng trước ở nơi có đủ điều kiện, những nơi chưa đủ thì sẽ phấn đấu.
Nhận định sách song ngữ cần thiết, ông Ngô Thanh Xuân - Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai (Lào Cai) lý giải: Học sinh cần giai đoạn “cầu nối” ban đầu. Nếu ngay từ đầu chỉ toàn tiếng Anh, học sinh sẽ bị sốc và quá tải hiểu biết, dẫn tới mất động lực học. Giáo viên cũng cần thích nghi.
Thực tế, đội ngũ giáo viên Việt Nam hiện nay trình độ tiếng Anh không đồng đều. Nếu thiếu phần tiếng Việt hỗ trợ ban đầu, việc giảng dạy đại trà sẽ gặp khó khăn lớn. Bên cạnh đó, những nơi như vùng sâu xa, việc tiếp cận tài liệu 100% tiếng Anh trong giai đoạn đầu dễ khiến học sinh và giáo viên bị “hụt hơi”, dẫn tới bất bình đẳng.
“Tuy nhiên, sách song ngữ chỉ nên áp dụng thời gian khoảng 10 năm đầu”. Hai lý do được ông Ngô Thanh Xuân đưa ra là “hệ sinh thái đã trưởng thành”, “thúc đẩy chuẩn hóa ngôn ngữ học thuật bằng tiếng Anh” và “tâm lý xã hội chấp nhận dần”. Cụ thể, nếu có sách song ngữ suốt 10 năm, học sinh từ tiểu học đến THCS đã làm chủ đủ vốn tiếng Anh để học thuần thục.
Cần có điểm “gãy”, chuyển sang tiếng Anh hoàn toàn để tạo áp lực tích cực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Sau 10 năm, xã hội có thời gian làm quen với việc tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy chính. Cũng theo Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai, ngoài sách giáo khoa song ngữ, cần hỗ trợ thêm sách giáo viên, bài tập, tư liệu số, học liệu tương tác và bồi dưỡng chuyên môn liên tục cho đội ngũ.
Giao lưu, gặp gỡ giữa giáo viên, học sinh Trường THPT chuyên Lào Cai và giáo viên, học sinh Trường Victoria (Singapore). Ảnh: NTCC


Đảm bảo nguyên tắc “học ngôn ngữ qua nội dung”

Bà Trần Thị Quỳnh Lê - Quản lý chương trình Song ngữ và hợp tác quốc tế, Phenikaa School dẫn chứng một số quốc gia biên soạn sách giáo khoa song ngữ. Theo đó, Singapore trong những năm 1970 - 1980, sách giáo khoa các môn học có giải thích song ngữ Anh - Hoa hoặc Anh - Mã Lai để học sinh dễ tiếp cận.
Giai đoạn thực hiện chính sách dạy - học khoa học và toán học bằng tiếng Anh (PPSMI) từ năm 2003, Bộ Giáo dục Malaysia cho phép phát hành sách giáo khoa Toán và Khoa học có phần song ngữ Anh - Mã Lai để hỗ trợ học sinh dần làm quen với dạy học bằng tiếng Anh. Tương tự, từ năm 2009, Philippines ban hành sắc lệnh mới Giáo dục đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (MTB-MLE); trong đó sử dụng tài liệu học tập song ngữ tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh trong các lớp học tiểu học.
“Có thể thấy, ở các nước đã thành công như Singapore, sách giáo khoa song ngữ được coi là chiến lược hỗ trợ chuyển tiếp quan trọng, nhất là ở giai đoạn triển khai ban đầu”, bà Trần Thị Quỳnh Lê cho hay.
Góp ý cho sách giáo khoa song ngữ, bà Trần Thị Quỳnh Lê cho rằng, cần lấy năng lực học sinh làm trung tâm và đảm bảo nguyên tắc “học ngôn ngữ qua nội dung” (Content and Language Integrated Learning - CLIL). Sách giáo khoa cần thiết kế theo hướng “giáo dục năng lực toàn diện bằng ngoại ngữ”, không chỉ đơn giản là “dịch sang tiếng Anh”. Cụ thể:
Không đơn thuần dịch thuật: Không thiết kế sách giáo khoa như bản dịch y nguyên giữa hai ngôn ngữ; cần tối ưu hóa ngôn ngữ để hỗ trợ phát triển tư duy ngôn ngữ thứ hai.
Tích hợp mục tiêu ngôn ngữ và nội dung: Ví dụ, nếu dạy môn Toán bằng sách giáo khoa song ngữ thì ngoài việc truyền đạt kiến thức toán, phải có mục tiêu rõ ràng về từ vựng và cấu trúc tiếng Anh học thuật của lĩnh vực đó.
Tăng dần mức độ tiếng Anh: Giai đoạn 1, tỷ lệ chú thích tiếng Việt cao và giảm dần đến giai đoạn 3 chỉ dùng tiếng Anh và chỉ dùng tiếng Việt khi giải thích các nội dung phức tạp. Các giai đoạn này không nên kéo dài quá vài năm.
Thiết kế nhiều dạng hoạt động giao tiếp: Để học sinh không chỉ đọc hiểu sách giáo khoa, mà còn dùng tiếng Anh trong giao tiếp thực tế về nội dung học.
Tính phân hóa: Sách giáo khoa cần có tài liệu hỗ trợ học sinh yếu và thách thức cho học sinh khá giỏi.
Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, bà Trần Thị Quỳnh Lê nhận thấy cần cân nhắc kỹ lưỡng việc áp dụng sách giáo khoa song ngữ. Sách giáo khoa song ngữ có một vài ưu điểm trong ngắn hạn là giảm áp lực cho học sinh yếu tiếng Anh, gỡ bỏ rào cản ngôn ngữ; hỗ trợ giáo viên chưa đủ tự tin dạy 100% tiếng Anh (đặc biệt vùng nông thôn, miền núi); giúp học sinh vừa nắm kiến thức vừa học từ vựng tiếng Anh (nhất là các môn Khoa học tự nhiên).
Mặt khác, về dài hạn sách giáo khoa song ngữ có thể cản trở quá trình thẩm thấu tự nhiên ngôn ngữ thứ hai và ức chế phản xạ tiếng Anh. Việc đọc song song hai ngôn ngữ khiến học sinh và giáo viên dễ lệ thuộc vào tiếng Việt để hiểu nội dung, thay vì vận dụng tư duy trực tiếp bằng tiếng Anh. Học sinh sẽ hình thành thói quen dịch trong đầu, thay vì “nghĩ bằng tiếng Anh”
Với hai hệ thống ngôn ngữ cùng tồn tại, giáo viên sẽ gặp khó khăn khi lựa chọn - lúc nào dạy bằng tiếng Anh, lúc nào giải thích bằng tiếng Việt. Học sinh có thể bị lẫn lộn giữa hai hệ thống ngữ pháp, từ vựng, cách diễn đạt. Chi phí đầu tư, duy trì sách giáo khoa song ngữ cao nhưng hiệu quả thấp vì để xây dựng bộ sách giáo khoa song ngữ, cần có đội ngũ dịch thuật chất lượng cao (vừa chuẩn học thuật, vừa phù hợp văn hóa) và cần thường xuyên cập nhật, chỉnh sửa, đối chiếu hai ngôn ngữ, đào tạo lại giáo viên.
Bài học dự án PPSMI của Malaysia cho thấy việc đầu tư lớn cho sách giáo khoa tiếng Anh - Mã Lai nhưng kết quả không thành công và phải dừng năm 2012. Hai trong số các nguyên nhân chính của thất bại này là không thay đổi được môi trường thực hành tiếng Anh và không cải thiện chất lượng đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy.
Từ đó, bà Trần Thị Quỳnh Lê đề xuất: Thay vì sử dụng sách song ngữ hoàn toàn, có thể dùng giáo trình tiếng Anh (có thể điều chỉnh cho phù hợp bối cảnh) kèm chú thích/chú giải song ngữ với hệ thống hỗ trợ từ vựng - hình ảnh - ngữ cảnh rõ ràng nhằm hỗ trợ học sinh, giáo viên trong giai đoạn đầu chuyển đổi chính sách, giúp thầy trò làm quen dần việc dạy và học bằng tiếng Anh.
Sách giáo khoa chỉ là phần nhỏ trong chính sách đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Để chính sách này khả thi cần có giải pháp đồng bộ (đào tạo giáo viên, đánh giá năng lực, xây dựng môi trường thực hành tiếng Anh...) và hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện (từ bộ công cụ đào tạo, tài liệu số, bài tập, kiểm tra đánh giá...) để có thể áp dụng thành công chính sách đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. - Bà Trần Thị Quỳnh Lê
Giờ học môn Tiếng Anh của cô và trò Trường THCS Bế Văn Đàn (quận Đống Đa, Hà Nội). Ảnh: INT

Về giải pháp thực hiện, có ý kiến cho rằng nên thiết kế sách giáo khoa song ngữ cho cả học sinh và giáo viên.

Cần thiết, nhưng chỉ ở giai đoạn đầu

Ủng hộ việc có sách giáo khoa song ngữ trong dạy học tiếng Anh, PGS.TS Võ Văn Minh - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, sách song ngữ giúp học sinh làm quen với thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh từ sớm. Được tiếp xúc song song tiếng Việt và tiếng Anh giúp người học tăng khả năng đọc hiểu, tư duy bằng ngoại ngữ.
Sách giáo khoa song ngữ cũng hỗ trợ học sinh Việt kiều, học sinh nước ngoài tại Việt Nam học tập trong môi trường linh hoạt ngôn ngữ hơn. Bên cạnh đó, nhiều trường học tại Việt Nam đang dạy các chương trình tích hợp (song ngữ, quốc tế), nhưng tài liệu học tập còn thiếu hoặc phụ thuộc vào sách nước ngoài. Làm sách giáo khoa song ngữ giúp chuẩn hóa, tiết kiệm và phù hợp hơn với văn hóa Việt.
Theo PGS.TS Võ Văn Minh, thách thức khi làm sách giáo khoa song ngữ chủ yếu ở chi phí và nguồn lực. Do vậy, nên tiếp cận từng bước và áp dụng dần dần. Chẳng hạn làm sách song ngữ cho các môn Toán, Khoa học, Tin học (những môn có nội dung dễ tiếp cận bằng tiếng Anh) trước; áp dụng trước ở nơi có đủ điều kiện, những nơi chưa đủ thì sẽ phấn đấu.
Nhận định sách song ngữ cần thiết, ông Ngô Thanh Xuân - Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai (Lào Cai) lý giải: Học sinh cần giai đoạn “cầu nối” ban đầu. Nếu ngay từ đầu chỉ toàn tiếng Anh, học sinh sẽ bị sốc và quá tải hiểu biết, dẫn tới mất động lực học. Giáo viên cũng cần thích nghi.
Thực tế, đội ngũ giáo viên Việt Nam hiện nay trình độ tiếng Anh không đồng đều. Nếu thiếu phần tiếng Việt hỗ trợ ban đầu, việc giảng dạy đại trà sẽ gặp khó khăn lớn. Bên cạnh đó, những nơi như vùng sâu xa, việc tiếp cận tài liệu 100% tiếng Anh trong giai đoạn đầu dễ khiến học sinh và giáo viên bị “hụt hơi”, dẫn tới bất bình đẳng.
“Tuy nhiên, sách song ngữ chỉ nên áp dụng thời gian khoảng 10 năm đầu”. Hai lý do được ông Ngô Thanh Xuân đưa ra là “hệ sinh thái đã trưởng thành”, “thúc đẩy chuẩn hóa ngôn ngữ học thuật bằng tiếng Anh” và “tâm lý xã hội chấp nhận dần”. Cụ thể, nếu có sách song ngữ suốt 10 năm, học sinh từ tiểu học đến THCS đã làm chủ đủ vốn tiếng Anh để học thuần thục.
Cần có điểm “gãy”, chuyển sang tiếng Anh hoàn toàn để tạo áp lực tích cực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Sau 10 năm, xã hội có thời gian làm quen với việc tiếng Anh là ngôn ngữ giảng dạy chính. Cũng theo Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Lào Cai, ngoài sách giáo khoa song ngữ, cần hỗ trợ thêm sách giáo viên, bài tập, tư liệu số, học liệu tương tác và bồi dưỡng chuyên môn liên tục cho đội ngũ.
Giao lưu, gặp gỡ giữa giáo viên, học sinh Trường THPT chuyên Lào Cai và giáo viên, học sinh Trường Victoria (Singapore). Ảnh: NTCC


Đảm bảo nguyên tắc “học ngôn ngữ qua nội dung”

Bà Trần Thị Quỳnh Lê - Quản lý chương trình Song ngữ và hợp tác quốc tế, Phenikaa School dẫn chứng một số quốc gia biên soạn sách giáo khoa song ngữ. Theo đó, Singapore trong những năm 1970 - 1980, sách giáo khoa các môn học có giải thích song ngữ Anh - Hoa hoặc Anh - Mã Lai để học sinh dễ tiếp cận.
Giai đoạn thực hiện chính sách dạy - học khoa học và toán học bằng tiếng Anh (PPSMI) từ năm 2003, Bộ Giáo dục Malaysia cho phép phát hành sách giáo khoa Toán và Khoa học có phần song ngữ Anh - Mã Lai để hỗ trợ học sinh dần làm quen với dạy học bằng tiếng Anh. Tương tự, từ năm 2009, Philippines ban hành sắc lệnh mới Giáo dục đa ngôn ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (MTB-MLE); trong đó sử dụng tài liệu học tập song ngữ tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh trong các lớp học tiểu học.
“Có thể thấy, ở các nước đã thành công như Singapore, sách giáo khoa song ngữ được coi là chiến lược hỗ trợ chuyển tiếp quan trọng, nhất là ở giai đoạn triển khai ban đầu”, bà Trần Thị Quỳnh Lê cho hay.
Góp ý cho sách giáo khoa song ngữ, bà Trần Thị Quỳnh Lê cho rằng, cần lấy năng lực học sinh làm trung tâm và đảm bảo nguyên tắc “học ngôn ngữ qua nội dung” (Content and Language Integrated Learning - CLIL). Sách giáo khoa cần thiết kế theo hướng “giáo dục năng lực toàn diện bằng ngoại ngữ”, không chỉ đơn giản là “dịch sang tiếng Anh”. Cụ thể:
Không đơn thuần dịch thuật: Không thiết kế sách giáo khoa như bản dịch y nguyên giữa hai ngôn ngữ; cần tối ưu hóa ngôn ngữ để hỗ trợ phát triển tư duy ngôn ngữ thứ hai.
Tích hợp mục tiêu ngôn ngữ và nội dung: Ví dụ, nếu dạy môn Toán bằng sách giáo khoa song ngữ thì ngoài việc truyền đạt kiến thức toán, phải có mục tiêu rõ ràng về từ vựng và cấu trúc tiếng Anh học thuật của lĩnh vực đó.
Tăng dần mức độ tiếng Anh: Giai đoạn 1, tỷ lệ chú thích tiếng Việt cao và giảm dần đến giai đoạn 3 chỉ dùng tiếng Anh và chỉ dùng tiếng Việt khi giải thích các nội dung phức tạp. Các giai đoạn này không nên kéo dài quá vài năm.
Thiết kế nhiều dạng hoạt động giao tiếp: Để học sinh không chỉ đọc hiểu sách giáo khoa, mà còn dùng tiếng Anh trong giao tiếp thực tế về nội dung học.
Tính phân hóa: Sách giáo khoa cần có tài liệu hỗ trợ học sinh yếu và thách thức cho học sinh khá giỏi.
Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, bà Trần Thị Quỳnh Lê nhận thấy cần cân nhắc kỹ lưỡng việc áp dụng sách giáo khoa song ngữ. Sách giáo khoa song ngữ có một vài ưu điểm trong ngắn hạn là giảm áp lực cho học sinh yếu tiếng Anh, gỡ bỏ rào cản ngôn ngữ; hỗ trợ giáo viên chưa đủ tự tin dạy 100% tiếng Anh (đặc biệt vùng nông thôn, miền núi); giúp học sinh vừa nắm kiến thức vừa học từ vựng tiếng Anh (nhất là các môn Khoa học tự nhiên).
Mặt khác, về dài hạn sách giáo khoa song ngữ có thể cản trở quá trình thẩm thấu tự nhiên ngôn ngữ thứ hai và ức chế phản xạ tiếng Anh. Việc đọc song song hai ngôn ngữ khiến học sinh và giáo viên dễ lệ thuộc vào tiếng Việt để hiểu nội dung, thay vì vận dụng tư duy trực tiếp bằng tiếng Anh. Học sinh sẽ hình thành thói quen dịch trong đầu, thay vì “nghĩ bằng tiếng Anh”
Với hai hệ thống ngôn ngữ cùng tồn tại, giáo viên sẽ gặp khó khăn khi lựa chọn - lúc nào dạy bằng tiếng Anh, lúc nào giải thích bằng tiếng Việt. Học sinh có thể bị lẫn lộn giữa hai hệ thống ngữ pháp, từ vựng, cách diễn đạt. Chi phí đầu tư, duy trì sách giáo khoa song ngữ cao nhưng hiệu quả thấp vì để xây dựng bộ sách giáo khoa song ngữ, cần có đội ngũ dịch thuật chất lượng cao (vừa chuẩn học thuật, vừa phù hợp văn hóa) và cần thường xuyên cập nhật, chỉnh sửa, đối chiếu hai ngôn ngữ, đào tạo lại giáo viên.
Bài học dự án PPSMI của Malaysia cho thấy việc đầu tư lớn cho sách giáo khoa tiếng Anh - Mã Lai nhưng kết quả không thành công và phải dừng năm 2012. Hai trong số các nguyên nhân chính của thất bại này là không thay đổi được môi trường thực hành tiếng Anh và không cải thiện chất lượng đội ngũ giáo viên và phương pháp giảng dạy.
Từ đó, bà Trần Thị Quỳnh Lê đề xuất: Thay vì sử dụng sách song ngữ hoàn toàn, có thể dùng giáo trình tiếng Anh (có thể điều chỉnh cho phù hợp bối cảnh) kèm chú thích/chú giải song ngữ với hệ thống hỗ trợ từ vựng - hình ảnh - ngữ cảnh rõ ràng nhằm hỗ trợ học sinh, giáo viên trong giai đoạn đầu chuyển đổi chính sách, giúp thầy trò làm quen dần việc dạy và học bằng tiếng Anh.
Sách giáo khoa chỉ là phần nhỏ trong chính sách đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Để chính sách này khả thi cần có giải pháp đồng bộ (đào tạo giáo viên, đánh giá năng lực, xây dựng môi trường thực hành tiếng Anh...) và hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện (từ bộ công cụ đào tạo, tài liệu số, bài tập, kiểm tra đánh giá...) để có thể áp dụng thành công chính sách đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. - Bà Trần Thị Quỳnh Lê
Chia sẻ
đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường họccó cần sách giáo khoa song ngữtiếng Anh thành ngôn ngữ thứ haiđưa tiếng Anh vào trường họcsách giáo khoa song ngữdạy học tiếng Anh
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2025/05/20 10:05 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia
Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập
Giáo dục - Học đường

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc
Giáo dục - Học đường

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
Giáo dục - Học đường

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
Giáo dục - Học đường

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học
Giáo dục - Học đường

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học

Mới nhất

2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
2026-10-17 10:05

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam

GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam
2026-10-17 10:03

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh

GD&TĐ - Quảng Trị tập trung nguồn lực xây dựng 15 trường học vùng biên giới, 4 trường phổ thông nội trú giai đoạn 1 được đẩy nhanh để đưa vào sử dụng.

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh
2026-10-17 10:03

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo

GD&TĐ - Việc đầu tư thiết bị đào tạo tại vùng ven đô Tây Ninh luôn lấy người học làm trung tâm để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo
2026-10-17 10:02

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026

GD&TĐ - Tối 16/10, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Quang Hưng dự lễ trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng năm 2026.

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026