Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Nâng chất lượng đào tạo tiến sĩ

2026/07/29 16:20

GD&TĐ - Đào tạo tiến sĩ sẽ được nâng chất lượng với các tiêu chí về thời gian làm việc, chỉ số công bố quốc tế, tiêu chuẩn người dạy...



Nhiều quy định mới

Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT (Thông tư 53) của Bộ GD&ĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học hiệu lực từ 30/6, đưa ra nhiều yêu cầu, tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.
Theo Thông tư 53, người theo học tiến sĩ chỉ được đào tạo theo hình thức chính quy. Nghiên cứu sinh (NCS) phải chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Người học có thể lựa chọn một trong hai phương thức: học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo hoặc học tập theo kế hoạch toàn khóa với khối lượng tối thiểu 30 tín chỉ trong một năm học.
Phương thức học “toàn thời gian” được coi là điểm mới trong quy chế này, tức là NCS phải dành toàn bộ thời gian cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy… và không làm việc toàn thời gian ở nơi khác trong lúc học.
NCS sẽ được đánh giá luận án khi hoàn thành chương trình, đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học, liêm chính học thuật. Trong đó, với công bố khoa học, họ phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của ít nhất một bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus; hoặc là tác giả kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đã được cấp bằng độc quyền sáng chế…
Theo quy chế, giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải có học hàm giáo sư, phó giáo sư hoặc bằng tiến sĩ phù hợp với học phần phụ trách. Đồng thời có năng lực nghiên cứu, giảng dạy, ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ số đáp ứng yêu cầu đào tạo.
Trường hợp chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư thì phải có ít nhất hai năm kinh nghiệm sau khi được cấp bằng tiến sĩ và có công bố khoa học hàng năm.
Đối với người hướng dẫn NCS, quy chế yêu cầu phải có năng lực hướng dẫn nghiên cứu và trong 5 năm gần nhất phải có công bố khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS), Scopus hoặc có sách chuyên khảo, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu.
Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ nhận được đồng thuận từ các nhà quản lý giáo dục, chuyên gia.
Theo TS La Vĩnh Trung, Trưởng phòng quản lý nghiên cứu khoa học (Trường Đại học Việt Đức), phương thức học tiến sĩ toàn thời gian sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ. Đầu tiên, nó tạo ra áp lực giúp sàng lọc ứng viên NCS ngay từ ban đầu. Chỉ ứng viên nào thực sự có quyết tâm, sẵn sàng theo đuổi con đường học thuật nghiêm túc mới sẵn sàng đầu tư toàn bộ thời gian, công sức cho việc nghiên cứu “toàn thời gian”, từ bỏ các công việc khác.
TS Trung nhìn nhận việc học tiến sĩ đồng thời vẫn đi làm và nhận lương ở một cơ quan/công ty khác sẽ dễ dẫn đến việc thỏa hiệp để ưu tiên hoàn thành các công việc được trả lương. Về lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng trì hoãn trong nghiên cứu, giảm chất lượng nghiên cứu. Cuối cùng, môi trường nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng.
Khi học tiến sĩ toàn thời gian tại trường, NCS có cơ hội tiếp xúc, làm việc, trao đổi học thuật thường xuyên với thầy hướng dẫn, các thành viên khác trong nhóm, qua đó tạo sự kết nối và dễ dàng chia sẻ, phản biện, cải thiện hướng nghiên cứu/kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, việc tập trung toàn thời gian còn giúp NCS duy trì mạch tư duy khoa học liên tục, tránh tình trạng "gián đoạn nghiên cứu", một trong những nguyên nhân chính dẫn đến luận án thiếu tính hệ thống và kéo dài thời gian đào tạo vượt chuẩn.
Ông cho biết, chủ trương này đã được áp dụng triệt để tại trường Đại học Việt Đức từ khi bắt đầu đào tạo chương trình tiến sĩ từ năm 2020 đến nay ở bốn ngành: Mô phỏng trên máy tính, Công nghệ thông tin, Đô Thị phát triển bền vững và Kỹ thuật sản xuất bền vững. Điều này giúp đảm bảo sự tập trung và tính liên tục trong nghiên cứu nhằm nâng cao chuẩn đầu ra và chất lượng công bố quốc tế.
"Đây là bước đi có thể mang tính chiến lược, giúp việc đào tạo tiến sĩ ở trường có thể tiệm cận với chuẩn mực đào tạo tiến sĩ của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Theo ThS Phạm Thái Sơn (Trường Đại học Công Thương TPHCM) phương thức học tiến sĩ toàn thời gian là thay đổi cần thiết nhưng cần hiểu đúng. Toàn thời gian không nên đơn giản được hiểu là nghiên cứu sinh phải có mặt tại trường đủ bao nhiêu giờ mỗi ngày. Một nhà nghiên cứu có thể làm việc trong phòng thí nghiệm, thư viện, trên máy tính, tại địa bàn khảo sát, với cơ sở dữ liệu hoặc ở nhiều không gian khác nhau. Ông cho rằng, điều quan trọng nhất phải là thời gian nghiên cứu thực chất và sản phẩm khoa học tạo ra, chứ không phải số giờ hiện diện về mặt hành chính.
Việc đánh giá NCS theo quan điểm của ThS Sơn cần chuyển từ “người học có mặt ở đâu, bao nhiêu giờ” sang “người học đã tạo ra được gì”. NCS cần được đánh giá bằng câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu, kết quả phân tích, bài báo, hội thảo và những đóng góp mới cho khoa học; kế hoạch nghiên cứu của họ được theo dõi bằng các mốc tiến độ và sản phẩm khoa học cụ thể.
“Ở góc độ bản thân sẽ học lên tiến sĩ, tôi mong muốn chuyển từ quản lý người học sang phát triển nhà nghiên cứu”, ThS Sơn nói.
Phòng lab nghiên cứu tại Trường Đại học Công Thương TPHCM. Ảnh: Hà An.


NCS cần được hỗ trợ gì?

Để người học chuyên tâm theo mô hình tiến sĩ “toàn thời gian”, TS La Vĩnh Trung cho rằng, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ, cụ thể từ Chính phủ và cơ sở đào tạo. Hiện nay, theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP hiệu lực từ 15/7 đã có quy định cấp học bổng cho người học các ngành Khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, và công nghệ chiến lược. Theo đó, NCS theo diện này được hỗ trợ tối đa 8,4 triệu VNĐ/tháng.
Tại trường Đại học Việt Đức, TS Trung cho biết, NCS toàn thời gian tại trường được miễn hoàn toàn học phí trong suốt thời gian đào tạo và gắn với vị trí Trợ lý nghiên cứu và giảng dạy (RTA) và được trả lương hàng tháng. Đây cũng là mô hình chuẩn của các trường đại học nghiên cứu quốc tế. Nó giúp giải quyết cùng lúc nhiều vấn đề, bao gồm thu nhập cho NCS và nguồn nhân lực trợ giảng, nghiên cứu cho nhà trường.
Vị trí này được hưởng đầy đủ quyền lợi về lương hằng tháng, hỗ trợ kinh phí dự hội nghị, hội thảo, công bố khoa học, BHYT, BHXH. NCS tại trường Đại học Việt Đức sẽ có nhiều cơ hội làm việc tại các phòng thí nghiệm có các máy móc hiện đại với kinh phí thực hiện luận án được hỗ trợ từ các đề tài nghiên cứu khoa học. Điều này giúp giảm áp lực tài chính và sự đánh đổi về cơ hội nghề nghiệp khi không thể đi làm tạo thu nhập ổn định cho các NCS tại trường.
Về phía người học, đặc biệt là ở Việt Nam, TS Trung cho rằng, cần xem khoảng thời gian 3-4 năm học tiến sĩ toàn thời gian cũng là một giai đoạn nghề nghiệp, cần tập trung hoàn thành đúng hạn, tránh kéo dài. Đồng thời, cần chủ động tìm kiếm nguồn hỗ trợ tài chính bên cạnh các chính sách đã có của Nhà nước (vốn không dành cho tất cả các ngành đào tạo) và cơ sở đào tạo, ví dụ VinIF, Nafosted, học bổng hỗ trợ từ các doanh nghiệp.
ThS Phạm Thái Sơn cho rằng, cần xây dựng đồng bộ một hệ sinh thái gồm học bổng, trợ lý nghiên cứu, trợ giảng, kinh phí nghiên cứu, hỗ trợ công bố và môi trường học thuật.
Tuy nhiên, ông cho rằng tiến sĩ toàn thời gian cũng nên đi cùng với điều kiện để người học có thể toàn tâm cho nghiên cứu. Để nâng cao hiệu quả đào tạo tiến sĩ, “xương sống” của một chương trình đào tạo xuất phát từ đặt vấn đề nghiên cứu, thu thập tài liệu, xây dựng phương pháp, dữ liệu, phân tích, công bố và đóng góp mới cho khoa học.
“Đây mới là hành trình để một người học trở thành nhà nghiên cứu. Với cá nhân, tôi sẽ không chọn một đề tài nghiên cứu tiến sĩ chỉ vì nó 'dễ làm'. Nếu đã dành 3–4 năm cho một công trình nghiên cứu tôi muốn đề tài đó xuất phát từ một vấn đề thật, có ý nghĩa khoa học và có khả năng tạo ra giá trị thực tế.”, ThS Sơn nói.
Theo TS La Vĩnh Trung, bên cạnh tiêu chí đánh giá NCS các trường nên đánh giá hiệu quả hướng dẫn của giảng viên qua các tiêu chí như: tỉ lệ NCS hoàn thành đúng hạn, số lượng bài báo của NCS do giảng viên đó hướng dẫn, và sự hài lòng của NCS sau khóa học. Điều này để đánh giá giảng viên, vì thực tế một người giỏi nghiên cứu chưa chắc đã là người hướng dẫn tốt.

Phòng thí nghiệm của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG TPHCM. Ảnh: CLA-HCMUS.


Nhiều quy định mới

Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT (Thông tư 53) của Bộ GD&ĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học hiệu lực từ 30/6, đưa ra nhiều yêu cầu, tiêu chuẩn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ.
Theo Thông tư 53, người theo học tiến sĩ chỉ được đào tạo theo hình thức chính quy. Nghiên cứu sinh (NCS) phải chịu sự quản lý, giám sát và đánh giá của cơ sở đào tạo trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu. Người học có thể lựa chọn một trong hai phương thức: học tập, nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo hoặc học tập theo kế hoạch toàn khóa với khối lượng tối thiểu 30 tín chỉ trong một năm học.
Phương thức học “toàn thời gian” được coi là điểm mới trong quy chế này, tức là NCS phải dành toàn bộ thời gian cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy… và không làm việc toàn thời gian ở nơi khác trong lúc học.
NCS sẽ được đánh giá luận án khi hoàn thành chương trình, đáp ứng yêu cầu về công bố khoa học, liêm chính học thuật. Trong đó, với công bố khoa học, họ phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của ít nhất một bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus; hoặc là tác giả kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ đã được cấp bằng độc quyền sáng chế…
Theo quy chế, giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải có học hàm giáo sư, phó giáo sư hoặc bằng tiến sĩ phù hợp với học phần phụ trách. Đồng thời có năng lực nghiên cứu, giảng dạy, ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ số đáp ứng yêu cầu đào tạo.
Trường hợp chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư thì phải có ít nhất hai năm kinh nghiệm sau khi được cấp bằng tiến sĩ và có công bố khoa học hàng năm.
Đối với người hướng dẫn NCS, quy chế yêu cầu phải có năng lực hướng dẫn nghiên cứu và trong 5 năm gần nhất phải có công bố khoa học thuộc danh mục Web of Science (WoS), Scopus hoặc có sách chuyên khảo, bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu.
Quy chế mới về đào tạo tiến sĩ nhận được đồng thuận từ các nhà quản lý giáo dục, chuyên gia.
Theo TS La Vĩnh Trung, Trưởng phòng quản lý nghiên cứu khoa học (Trường Đại học Việt Đức), phương thức học tiến sĩ toàn thời gian sẽ tác động tích cực đến việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ. Đầu tiên, nó tạo ra áp lực giúp sàng lọc ứng viên NCS ngay từ ban đầu. Chỉ ứng viên nào thực sự có quyết tâm, sẵn sàng theo đuổi con đường học thuật nghiêm túc mới sẵn sàng đầu tư toàn bộ thời gian, công sức cho việc nghiên cứu “toàn thời gian”, từ bỏ các công việc khác.
TS Trung nhìn nhận việc học tiến sĩ đồng thời vẫn đi làm và nhận lương ở một cơ quan/công ty khác sẽ dễ dẫn đến việc thỏa hiệp để ưu tiên hoàn thành các công việc được trả lương. Về lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng trì hoãn trong nghiên cứu, giảm chất lượng nghiên cứu. Cuối cùng, môi trường nghiên cứu đóng vai trò rất quan trọng.
Khi học tiến sĩ toàn thời gian tại trường, NCS có cơ hội tiếp xúc, làm việc, trao đổi học thuật thường xuyên với thầy hướng dẫn, các thành viên khác trong nhóm, qua đó tạo sự kết nối và dễ dàng chia sẻ, phản biện, cải thiện hướng nghiên cứu/kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, việc tập trung toàn thời gian còn giúp NCS duy trì mạch tư duy khoa học liên tục, tránh tình trạng "gián đoạn nghiên cứu", một trong những nguyên nhân chính dẫn đến luận án thiếu tính hệ thống và kéo dài thời gian đào tạo vượt chuẩn.
Ông cho biết, chủ trương này đã được áp dụng triệt để tại trường Đại học Việt Đức từ khi bắt đầu đào tạo chương trình tiến sĩ từ năm 2020 đến nay ở bốn ngành: Mô phỏng trên máy tính, Công nghệ thông tin, Đô Thị phát triển bền vững và Kỹ thuật sản xuất bền vững. Điều này giúp đảm bảo sự tập trung và tính liên tục trong nghiên cứu nhằm nâng cao chuẩn đầu ra và chất lượng công bố quốc tế.
"Đây là bước đi có thể mang tính chiến lược, giúp việc đào tạo tiến sĩ ở trường có thể tiệm cận với chuẩn mực đào tạo tiến sĩ của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Theo ThS Phạm Thái Sơn (Trường Đại học Công Thương TPHCM) phương thức học tiến sĩ toàn thời gian là thay đổi cần thiết nhưng cần hiểu đúng. Toàn thời gian không nên đơn giản được hiểu là nghiên cứu sinh phải có mặt tại trường đủ bao nhiêu giờ mỗi ngày. Một nhà nghiên cứu có thể làm việc trong phòng thí nghiệm, thư viện, trên máy tính, tại địa bàn khảo sát, với cơ sở dữ liệu hoặc ở nhiều không gian khác nhau. Ông cho rằng, điều quan trọng nhất phải là thời gian nghiên cứu thực chất và sản phẩm khoa học tạo ra, chứ không phải số giờ hiện diện về mặt hành chính.
Việc đánh giá NCS theo quan điểm của ThS Sơn cần chuyển từ “người học có mặt ở đâu, bao nhiêu giờ” sang “người học đã tạo ra được gì”. NCS cần được đánh giá bằng câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu, kết quả phân tích, bài báo, hội thảo và những đóng góp mới cho khoa học; kế hoạch nghiên cứu của họ được theo dõi bằng các mốc tiến độ và sản phẩm khoa học cụ thể.
“Ở góc độ bản thân sẽ học lên tiến sĩ, tôi mong muốn chuyển từ quản lý người học sang phát triển nhà nghiên cứu”, ThS Sơn nói.
Phòng lab nghiên cứu tại Trường Đại học Công Thương TPHCM. Ảnh: Hà An.


NCS cần được hỗ trợ gì?

Để người học chuyên tâm theo mô hình tiến sĩ “toàn thời gian”, TS La Vĩnh Trung cho rằng, cần có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ, cụ thể từ Chính phủ và cơ sở đào tạo. Hiện nay, theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP hiệu lực từ 15/7 đã có quy định cấp học bổng cho người học các ngành Khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, và công nghệ chiến lược. Theo đó, NCS theo diện này được hỗ trợ tối đa 8,4 triệu VNĐ/tháng.
Tại trường Đại học Việt Đức, TS Trung cho biết, NCS toàn thời gian tại trường được miễn hoàn toàn học phí trong suốt thời gian đào tạo và gắn với vị trí Trợ lý nghiên cứu và giảng dạy (RTA) và được trả lương hàng tháng. Đây cũng là mô hình chuẩn của các trường đại học nghiên cứu quốc tế. Nó giúp giải quyết cùng lúc nhiều vấn đề, bao gồm thu nhập cho NCS và nguồn nhân lực trợ giảng, nghiên cứu cho nhà trường.
Vị trí này được hưởng đầy đủ quyền lợi về lương hằng tháng, hỗ trợ kinh phí dự hội nghị, hội thảo, công bố khoa học, BHYT, BHXH. NCS tại trường Đại học Việt Đức sẽ có nhiều cơ hội làm việc tại các phòng thí nghiệm có các máy móc hiện đại với kinh phí thực hiện luận án được hỗ trợ từ các đề tài nghiên cứu khoa học. Điều này giúp giảm áp lực tài chính và sự đánh đổi về cơ hội nghề nghiệp khi không thể đi làm tạo thu nhập ổn định cho các NCS tại trường.
Về phía người học, đặc biệt là ở Việt Nam, TS Trung cho rằng, cần xem khoảng thời gian 3-4 năm học tiến sĩ toàn thời gian cũng là một giai đoạn nghề nghiệp, cần tập trung hoàn thành đúng hạn, tránh kéo dài. Đồng thời, cần chủ động tìm kiếm nguồn hỗ trợ tài chính bên cạnh các chính sách đã có của Nhà nước (vốn không dành cho tất cả các ngành đào tạo) và cơ sở đào tạo, ví dụ VinIF, Nafosted, học bổng hỗ trợ từ các doanh nghiệp.
ThS Phạm Thái Sơn cho rằng, cần xây dựng đồng bộ một hệ sinh thái gồm học bổng, trợ lý nghiên cứu, trợ giảng, kinh phí nghiên cứu, hỗ trợ công bố và môi trường học thuật.
Tuy nhiên, ông cho rằng tiến sĩ toàn thời gian cũng nên đi cùng với điều kiện để người học có thể toàn tâm cho nghiên cứu. Để nâng cao hiệu quả đào tạo tiến sĩ, “xương sống” của một chương trình đào tạo xuất phát từ đặt vấn đề nghiên cứu, thu thập tài liệu, xây dựng phương pháp, dữ liệu, phân tích, công bố và đóng góp mới cho khoa học.
“Đây mới là hành trình để một người học trở thành nhà nghiên cứu. Với cá nhân, tôi sẽ không chọn một đề tài nghiên cứu tiến sĩ chỉ vì nó 'dễ làm'. Nếu đã dành 3–4 năm cho một công trình nghiên cứu tôi muốn đề tài đó xuất phát từ một vấn đề thật, có ý nghĩa khoa học và có khả năng tạo ra giá trị thực tế.”, ThS Sơn nói.
Theo TS La Vĩnh Trung, bên cạnh tiêu chí đánh giá NCS các trường nên đánh giá hiệu quả hướng dẫn của giảng viên qua các tiêu chí như: tỉ lệ NCS hoàn thành đúng hạn, số lượng bài báo của NCS do giảng viên đó hướng dẫn, và sự hài lòng của NCS sau khóa học. Điều này để đánh giá giảng viên, vì thực tế một người giỏi nghiên cứu chưa chắc đã là người hướng dẫn tốt.

Chia sẻ
đào tạo tiến sĩtiến sĩ tại Việt Namhọc tiến sĩsiết đào tạo tiến sĩThông tư 53quy chế đào tạo tiến sĩ
Theo Hà An
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/07/29 14:55 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia
Giáo dục - Học đường

Hưng Yên nâng chất lượng giáo dục gắn với xây dựng trường chuẩn quốc gia

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập
Giáo dục - Học đường

Trường THPT Cẩm Xuyên đổi mới quản trị, nâng chất lượng sau sáp nhập

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc
Giáo dục - Học đường

Bộ GD&ĐT sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
Giáo dục - Học đường

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
Giáo dục - Học đường

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học
Giáo dục - Học đường

Học bạ số: Tăng trách nhiệm quản lý, bảo đảm quyền lợi người học

Mới nhất

2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

GD&TĐ - Các nhà khoa học tập trung nhận diện những điểm nghẽn thể chế và động lực mới cho phát triển đất nước sau 40 năm đổi mới.

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
2026-10-17 10:05

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam

GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam
2026-10-17 10:03

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh

GD&TĐ - Quảng Trị tập trung nguồn lực xây dựng 15 trường học vùng biên giới, 4 trường phổ thông nội trú giai đoạn 1 được đẩy nhanh để đưa vào sử dụng.

Xây trường nội trú vùng biên Quảng Trị: Hiện thực giấc mơ học tập của học sinh
2026-10-17 10:03

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo

GD&TĐ - Việc đầu tư thiết bị đào tạo tại vùng ven đô Tây Ninh luôn lấy người học làm trung tâm để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đầu tư thiết bị dạy nghề vùng ven đô: Nền tảng để thúc đẩy chất lượng đào tạo
2026-10-17 10:02

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026

GD&TĐ - Tối 16/10, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Phạm Quang Hưng dự lễ trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng năm 2026.

Bế mạc và trao giải Cuộc thi Sinh viên an ninh mạng 2026