Phát triển STEM: Bứt phá từ đào tạo, nghiên cứu đến chuyển giao công nghệ
2026/10/26 17:20
GD&TĐ - Phát triển nhân lực chất lượng cao, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh và thúc đẩy chuyển giao công nghệ là những giải pháp để STEM bứt phá.
Mùa tuyển sinh đại học năm 2026 cho thấy những chuyển động đáng chú ý trong lựa chọn ngành nghề của thí sinh. Trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, bán dẫn, tự động hóa và các lĩnh vực STEM ngày càng thu hút sự quan tâm. Sự chuyển động ấy đặt ra yêu cầu để giáo dục đại học đón đầu nhu cầu nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo trong các lĩnh vực công nghệ và khoa học mũi nhọn.
Công văn số 7314/BGDĐT-GDĐH về thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 của Bộ GD&ĐT (Công văn 7314) nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên và thu hút nhân tài, đặc biệt trong các ngành STEM.
Tuy nhiên, sức hút của ngành học cần đi cùng năng lực đào tạo và nghiên cứu. Những hạn chế về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, cơ chế đầu tư và sự gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, nhu cầu doanh nghiệp cần được tháo gỡ để STEM phát triển thực chất.
Tăng nội lực đào tạo, nghiên cứu công nghệ
PGS.TS Đặng Đăng Tùng, Giám đốc Văn phòng Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM), nhìn nhận khi doanh nghiệp đã sẵn sàng “đặt hàng” các trường đại học, tham gia từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đến đồng hướng dẫn đồ án, luận văn tốt nghiệp, câu hỏi đặt ra là nội lực của các trường đã đủ sức giải quyết những bài toán công nghệ cao hay chưa?
Theo ông, hành lang chính sách đã có thêm điều kiện thuận lợi với Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Giáo dục đại học sửa đổi và Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1810/QĐ-TTg. Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu khoa học cho thấy những điểm nghẽn về nhân lực, tài chính và hạ tầng vẫn cần được tháo gỡ.
Trước hết, cần có chính sách đãi ngộ đủ sức giữ chân nhân tài trước sự cạnh tranh của khu vực công nghiệp. Công văn 7314 chỉ ra các ngành STEM đang chịu sức ép cạnh tranh trong thu hút nhân sự giỏi từ các tập đoàn công nghệ. “Thiếu lộ trình nghề nghiệp ổn định và thu nhập khởi điểm thấp khiến nhiều tiến sĩ trẻ rời giảng đường”, ông Tùng nhận định.
Cùng với đó, cần tăng cường hỗ trợ đào tạo sau đại học, lực lượng nòng cốt của nghiên cứu STEM. Tại các đại học nghiên cứu trên thế giới, học viên cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ trực tiếp tham gia nghiên cứu, vận hành phòng thí nghiệm. Trong khi đó, tuyển sinh sau đại học các ngành kỹ thuật tại Việt Nam còn khiêm tốn, một phần do người học phải làm việc song song với quá trình học tập. “Muốn phát triển công nghệ lõi, cần thay đổi tư duy và cơ chế để nghiên cứu sinh tiến sĩ có thể xem nghiên cứu là công việc được trả lương”, ông đề ra giải pháp.
Hạ tầng cũng là một điểm nghẽn. Kinh phí đầu tư thiết bị STEM lớn; nếu nguồn lực bị chia nhỏ, các khoa đầu tư riêng lẻ, thiếu kết nối, nguy cơ lãng phí và nhanh chóng lạc hậu sẽ gia tăng. Vì vậy, cần khai thác hiệu quả phòng thí nghiệm dùng chung, đồng thời tạo cơ chế linh hoạt để các trường chủ động phát triển ngành đào tạo mới.
Học sinh trải nghiệm các ngành học kỹ thuật, công nghệ tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM. Ảnh: NTCC.
Đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Một điểm nghẽn khác trong phát triển STEM ở đại học là kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, nhiều sản phẩm vẫn “kẹt” trong phòng thí nghiệm, chưa thể đi vào ứng dụng thực tiễn.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Y sinh, Khoa Điện - Điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TPHCM chỉ ra, nguyên nhân nằm ở sự thiếu hụt cơ chế và đội ngũ đồng hành để đưa kết quả nghiên cứu từ ý tưởng đến ứng dụng.
Theo ông, vướng mắc không chỉ nằm ở kinh phí của giảng viên hay sự quan tâm của doanh nghiệp, mà trải dài từ xác định nhu cầu, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến tính toán chi phí và tìm đối tác tiếp nhận. Định giá quyền sở hữu trí tuệ, kết nối cung - cầu công nghệ và nâng cao năng lực chuyển giao cũng là những vấn đề cần giải quyết.
Một mô hình hoạt động tốt trong phòng thí nghiệm chưa đồng nghĩa với sản phẩm có thể đưa ra thị trường. Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, cần xác định ngay từ đầu sản phẩm giải quyết vấn đề cho ai, có ưu thế gì so với giải pháp hiện có, vận hành ổn định không, chi phí sản xuất và bảo trì ra sao, có được kiểm định, cấp phép và có đơn vị tiếp nhận hay không. Nếu chỉ đặt ra những câu hỏi này sau khi đề tài kết thúc, quá trình chuyển giao sẽ bị động.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải lấy ví dụ trong lĩnh vực công tác của mình - điện tử y sinh, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tế càng quan trọng. “Cần làm rõ sản phẩm có được bác sĩ, bệnh nhân đón nhận, đủ điều kiện thương mại hóa và sử dụng tại bệnh viện hay không, cũng như cơ quan nào có thẩm quyền cấp phép sử dụng trên người hay không?”, ông cho biết.
Sinh viên Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) thực hành tại xưởng cơ khí. Ảnh: HCMUT.
Gỡ điểm nghẽn từ con người, hạ tầng đến cơ chế nghiên cứu
Để tháo gỡ những hạn chế trên, PGS.TS Đặng Đăng Tùng cho rằng cần đổi mới cơ chế đãi ngộ, hỗ trợ đào tạo sau đại học và sử dụng hiệu quả nguồn lực nghiên cứu.
Về nhân lực, các trường đại học cần chuyển từ cơ chế trả lương cào bằng theo thâm niên hành chính sang đãi ngộ theo vị trí việc làm, gắn với sản phẩm đầu ra như công bố quốc tế uy tín, bằng sáng chế và sản phẩm chuyển giao. Theo ông Tùng, kết hợp Đề án 89 của Chính phủ với các chương trình thu hút nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia đầu ngành từ nước ngoài, như mô hình thu hút nhà khoa học VNU350 của Đại học Quốc gia TPHCM, cùng chính sách thu nhập bền vững và lộ trình nghề nghiệp sẽ giúp giảng viên yên tâm cống hiến.
Đối với chuyên gia nước ngoài, ông đề xuất cải tiến thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục xuất nhập cảnh và cơ chế đặc biệt dành cho các chuyên gia, giáo sư thuộc nhóm tinh hoa, nhằm thúc đẩy quốc tế hóa và hợp tác lâu dài với các nhà khoa học hàng đầu thế giới.
Để phát triển nguồn nhân lực làm chủ công nghệ lõi, ông Tùng nhấn mạnh cần triển khai nhanh, đồng bộ Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách học bổng cho các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Theo nghị định, người học các ngành này có thể được cấp học bổng từ 3,7 đến 8,4 triệu đồng, tùy chương trình và trình độ đào tạo. Chính sách không chỉ góp phần giảm gánh nặng tài chính mà còn tạo thêm sức hút cho các ngành học được ưu tiên phát triển, khuyến khích thí sinh giỏi lựa chọn theo đuổi.
Ngoài ra, các trường cũng có thể phát triển mô hình tuyển dụng nghiên cứu sinh làm nghiên cứu viên hưởng lương như tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM), gắn với cơ hội trao đổi học thuật ngắn hạn tại các viện, trường uy tín trên thế giới.
Về hạ tầng, cần có quy chế chia sẻ phòng thí nghiệm, dữ liệu và hạ tầng tính toán giữa các đơn vị trong trường và giữa các trường. Đồng thời, cắt giảm thủ tục hành chính nội bộ, trao quyền tự chủ học thuật để các đơn vị kịp thời cập nhật chương trình, loại bỏ nội dung lạc hậu, chuẩn bị nhân lực cho những dự án quốc gia như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, bán dẫn và năng lượng tái tạo.
Ở góc độ tổ chức nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải cho rằng đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm và năng lực nghiên cứu phải được phát triển đồng bộ, bắt đầu từ con người và cơ chế làm việc. Đầu tư thiết bị khó phát huy hiệu quả nếu thiếu giảng viên làm chủ công nghệ, nhân sự vận hành và các chương trình, dự án nghiên cứu phù hợp.
Theo ông Hải, thu hút nhân tài không chỉ là tuyển người có học hàm, học vị, thành tích công bố khoa học hay sản phẩm thực tế tốt, mà còn phải tạo môi trường để họ theo đuổi nghiên cứu lâu dài. Các trường cần bảo đảm thời gian nghiên cứu, kinh phí khởi đầu, cơ hội triển khai dự án, khả năng tiếp cận thiết bị và cộng sự, đồng thời giảm trở ngại về thủ tục.
Một giảng viên cùng lúc đảm nhiệm giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu, quản lý và nhiều công việc hành chính sẽ khó theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu để tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Vì vậy, ông Hải đề xuất phân công nhiệm vụ linh hoạt theo vai trò, giai đoạn phát triển của từng người và từng dự án; đồng thời ghi nhận thực chất đóng góp trong xây dựng học phần thực hành, hướng dẫn dự án và hợp tác với doanh nghiệp.
Việc bồi dưỡng đội ngũ cần gắn với năng lực cụ thể. Giảng viên cần có cơ hội làm việc cùng doanh nghiệp, viện nghiên cứu, bệnh viện; tham gia dự án liên ngành; cập nhật phương pháp thiết kế, kiểm thử và đánh giá sản phẩm. Theo ông, cần thúc đẩy luân chuyển, công nhận và cân đối thời gian giảng viên làm việc tại doanh nghiệp với thời gian giảng dạy. Đây cũng là hướng phù hợp với đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ về tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp.
Về năng lực nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải đề xuất xây dựng các nhóm có định hướng trung và dài hạn, thay vì chỉ tập hợp nhân sự theo từng đề tài ngắn hạn. Mỗi nhóm cần có bài toán nghiên cứu rõ ràng, người dẫn dắt, sự phối hợp liên ngành và đối tác có khả năng phản hồi về giá trị ứng dụng. Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cần gắn với mục tiêu, chất lượng đầu ra và các chỉ số đánh giá cụ thể.
Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh nên tham gia những phần việc phù hợp, qua đó gắn đào tạo với quá trình tạo ra tri thức và sản phẩm. Kinh phí hỗ trợ đào tạo cũng cần tương xứng, khuyến khích người học đóng góp vào việc tạo ra các sản phẩm tri thức và ứng dụng có chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả đầu tư. Với đào tạo, cần xem xét sinh viên thực sự làm được gì; với phòng thí nghiệm, cần đánh giá mức độ khai thác và chất lượng kết quả tạo ra; còn với nghiên cứu ứng dụng, cần xác định công nghệ đã tiến thêm bước nào và có đối tác nào sẵn sàng sử dụng. Khi đội ngũ, hạ tầng và cơ chế cùng hướng đến những đầu ra cụ thể, đào tạo STEM mới có thể gắn kết thực chất với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu xã hội.
Sinh viên ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Văn Lang. Ảnh: NTCC.
Mùa tuyển sinh đại học năm 2026 cho thấy những chuyển động đáng chú ý trong lựa chọn ngành nghề của thí sinh. Trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu, bán dẫn, tự động hóa và các lĩnh vực STEM ngày càng thu hút sự quan tâm. Sự chuyển động ấy đặt ra yêu cầu để giáo dục đại học đón đầu nhu cầu nhân lực, nâng cao chất lượng đào tạo trong các lĩnh vực công nghệ và khoa học mũi nhọn.
Công văn số 7314/BGDĐT-GDĐH về thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 của Bộ GD&ĐT (Công văn 7314) nhấn mạnh yêu cầu tăng cường đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên và thu hút nhân tài, đặc biệt trong các ngành STEM.
Tuy nhiên, sức hút của ngành học cần đi cùng năng lực đào tạo và nghiên cứu. Những hạn chế về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, cơ chế đầu tư và sự gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, nhu cầu doanh nghiệp cần được tháo gỡ để STEM phát triển thực chất.
Tăng nội lực đào tạo, nghiên cứu công nghệ
PGS.TS Đặng Đăng Tùng, Giám đốc Văn phòng Đào tạo Quốc tế, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM), nhìn nhận khi doanh nghiệp đã sẵn sàng “đặt hàng” các trường đại học, tham gia từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đến đồng hướng dẫn đồ án, luận văn tốt nghiệp, câu hỏi đặt ra là nội lực của các trường đã đủ sức giải quyết những bài toán công nghệ cao hay chưa?
Theo ông, hành lang chính sách đã có thêm điều kiện thuận lợi với Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Giáo dục đại học sửa đổi và Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1810/QĐ-TTg. Tuy nhiên, thực tiễn nghiên cứu khoa học cho thấy những điểm nghẽn về nhân lực, tài chính và hạ tầng vẫn cần được tháo gỡ.
Trước hết, cần có chính sách đãi ngộ đủ sức giữ chân nhân tài trước sự cạnh tranh của khu vực công nghiệp. Công văn 7314 chỉ ra các ngành STEM đang chịu sức ép cạnh tranh trong thu hút nhân sự giỏi từ các tập đoàn công nghệ. “Thiếu lộ trình nghề nghiệp ổn định và thu nhập khởi điểm thấp khiến nhiều tiến sĩ trẻ rời giảng đường”, ông Tùng nhận định.
Cùng với đó, cần tăng cường hỗ trợ đào tạo sau đại học, lực lượng nòng cốt của nghiên cứu STEM. Tại các đại học nghiên cứu trên thế giới, học viên cao học và nghiên cứu sinh tiến sĩ trực tiếp tham gia nghiên cứu, vận hành phòng thí nghiệm. Trong khi đó, tuyển sinh sau đại học các ngành kỹ thuật tại Việt Nam còn khiêm tốn, một phần do người học phải làm việc song song với quá trình học tập. “Muốn phát triển công nghệ lõi, cần thay đổi tư duy và cơ chế để nghiên cứu sinh tiến sĩ có thể xem nghiên cứu là công việc được trả lương”, ông đề ra giải pháp.
Hạ tầng cũng là một điểm nghẽn. Kinh phí đầu tư thiết bị STEM lớn; nếu nguồn lực bị chia nhỏ, các khoa đầu tư riêng lẻ, thiếu kết nối, nguy cơ lãng phí và nhanh chóng lạc hậu sẽ gia tăng. Vì vậy, cần khai thác hiệu quả phòng thí nghiệm dùng chung, đồng thời tạo cơ chế linh hoạt để các trường chủ động phát triển ngành đào tạo mới.
Học sinh trải nghiệm các ngành học kỹ thuật, công nghệ tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TPHCM. Ảnh: NTCC.
Đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường
Một điểm nghẽn khác trong phát triển STEM ở đại học là kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa, nhiều sản phẩm vẫn “kẹt” trong phòng thí nghiệm, chưa thể đi vào ứng dụng thực tiễn.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, Trưởng Bộ môn Kỹ thuật Y sinh, Khoa Điện - Điện tử, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TPHCM chỉ ra, nguyên nhân nằm ở sự thiếu hụt cơ chế và đội ngũ đồng hành để đưa kết quả nghiên cứu từ ý tưởng đến ứng dụng.
Theo ông, vướng mắc không chỉ nằm ở kinh phí của giảng viên hay sự quan tâm của doanh nghiệp, mà trải dài từ xác định nhu cầu, hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, bảo hộ sở hữu trí tuệ đến tính toán chi phí và tìm đối tác tiếp nhận. Định giá quyền sở hữu trí tuệ, kết nối cung - cầu công nghệ và nâng cao năng lực chuyển giao cũng là những vấn đề cần giải quyết.
Một mô hình hoạt động tốt trong phòng thí nghiệm chưa đồng nghĩa với sản phẩm có thể đưa ra thị trường. Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Hải, cần xác định ngay từ đầu sản phẩm giải quyết vấn đề cho ai, có ưu thế gì so với giải pháp hiện có, vận hành ổn định không, chi phí sản xuất và bảo trì ra sao, có được kiểm định, cấp phép và có đơn vị tiếp nhận hay không. Nếu chỉ đặt ra những câu hỏi này sau khi đề tài kết thúc, quá trình chuyển giao sẽ bị động.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải lấy ví dụ trong lĩnh vực công tác của mình - điện tử y sinh, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tế càng quan trọng. “Cần làm rõ sản phẩm có được bác sĩ, bệnh nhân đón nhận, đủ điều kiện thương mại hóa và sử dụng tại bệnh viện hay không, cũng như cơ quan nào có thẩm quyền cấp phép sử dụng trên người hay không?”, ông cho biết.
Sinh viên Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM) thực hành tại xưởng cơ khí. Ảnh: HCMUT.
Gỡ điểm nghẽn từ con người, hạ tầng đến cơ chế nghiên cứu
Để tháo gỡ những hạn chế trên, PGS.TS Đặng Đăng Tùng cho rằng cần đổi mới cơ chế đãi ngộ, hỗ trợ đào tạo sau đại học và sử dụng hiệu quả nguồn lực nghiên cứu.
Về nhân lực, các trường đại học cần chuyển từ cơ chế trả lương cào bằng theo thâm niên hành chính sang đãi ngộ theo vị trí việc làm, gắn với sản phẩm đầu ra như công bố quốc tế uy tín, bằng sáng chế và sản phẩm chuyển giao. Theo ông Tùng, kết hợp Đề án 89 của Chính phủ với các chương trình thu hút nhà khoa học trẻ xuất sắc, chuyên gia đầu ngành từ nước ngoài, như mô hình thu hút nhà khoa học VNU350 của Đại học Quốc gia TPHCM, cùng chính sách thu nhập bền vững và lộ trình nghề nghiệp sẽ giúp giảng viên yên tâm cống hiến.
Đối với chuyên gia nước ngoài, ông đề xuất cải tiến thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục xuất nhập cảnh và cơ chế đặc biệt dành cho các chuyên gia, giáo sư thuộc nhóm tinh hoa, nhằm thúc đẩy quốc tế hóa và hợp tác lâu dài với các nhà khoa học hàng đầu thế giới.
Để phát triển nguồn nhân lực làm chủ công nghệ lõi, ông Tùng nhấn mạnh cần triển khai nhanh, đồng bộ Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách học bổng cho các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.
Theo nghị định, người học các ngành này có thể được cấp học bổng từ 3,7 đến 8,4 triệu đồng, tùy chương trình và trình độ đào tạo. Chính sách không chỉ góp phần giảm gánh nặng tài chính mà còn tạo thêm sức hút cho các ngành học được ưu tiên phát triển, khuyến khích thí sinh giỏi lựa chọn theo đuổi.
Ngoài ra, các trường cũng có thể phát triển mô hình tuyển dụng nghiên cứu sinh làm nghiên cứu viên hưởng lương như tại Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia TPHCM), gắn với cơ hội trao đổi học thuật ngắn hạn tại các viện, trường uy tín trên thế giới.
Về hạ tầng, cần có quy chế chia sẻ phòng thí nghiệm, dữ liệu và hạ tầng tính toán giữa các đơn vị trong trường và giữa các trường. Đồng thời, cắt giảm thủ tục hành chính nội bộ, trao quyền tự chủ học thuật để các đơn vị kịp thời cập nhật chương trình, loại bỏ nội dung lạc hậu, chuẩn bị nhân lực cho những dự án quốc gia như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, bán dẫn và năng lượng tái tạo.
Ở góc độ tổ chức nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải cho rằng đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm và năng lực nghiên cứu phải được phát triển đồng bộ, bắt đầu từ con người và cơ chế làm việc. Đầu tư thiết bị khó phát huy hiệu quả nếu thiếu giảng viên làm chủ công nghệ, nhân sự vận hành và các chương trình, dự án nghiên cứu phù hợp.
Theo ông Hải, thu hút nhân tài không chỉ là tuyển người có học hàm, học vị, thành tích công bố khoa học hay sản phẩm thực tế tốt, mà còn phải tạo môi trường để họ theo đuổi nghiên cứu lâu dài. Các trường cần bảo đảm thời gian nghiên cứu, kinh phí khởi đầu, cơ hội triển khai dự án, khả năng tiếp cận thiết bị và cộng sự, đồng thời giảm trở ngại về thủ tục.
Một giảng viên cùng lúc đảm nhiệm giảng dạy, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu, quản lý và nhiều công việc hành chính sẽ khó theo đuổi nghiên cứu chuyên sâu để tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa. Vì vậy, ông Hải đề xuất phân công nhiệm vụ linh hoạt theo vai trò, giai đoạn phát triển của từng người và từng dự án; đồng thời ghi nhận thực chất đóng góp trong xây dựng học phần thực hành, hướng dẫn dự án và hợp tác với doanh nghiệp.
Việc bồi dưỡng đội ngũ cần gắn với năng lực cụ thể. Giảng viên cần có cơ hội làm việc cùng doanh nghiệp, viện nghiên cứu, bệnh viện; tham gia dự án liên ngành; cập nhật phương pháp thiết kế, kiểm thử và đánh giá sản phẩm. Theo ông, cần thúc đẩy luân chuyển, công nhận và cân đối thời gian giảng viên làm việc tại doanh nghiệp với thời gian giảng dạy. Đây cũng là hướng phù hợp với đề xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ về tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp.
Về năng lực nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Thanh Hải đề xuất xây dựng các nhóm có định hướng trung và dài hạn, thay vì chỉ tập hợp nhân sự theo từng đề tài ngắn hạn. Mỗi nhóm cần có bài toán nghiên cứu rõ ràng, người dẫn dắt, sự phối hợp liên ngành và đối tác có khả năng phản hồi về giá trị ứng dụng. Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất cần gắn với mục tiêu, chất lượng đầu ra và các chỉ số đánh giá cụ thể.
Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh nên tham gia những phần việc phù hợp, qua đó gắn đào tạo với quá trình tạo ra tri thức và sản phẩm. Kinh phí hỗ trợ đào tạo cũng cần tương xứng, khuyến khích người học đóng góp vào việc tạo ra các sản phẩm tri thức và ứng dụng có chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả đầu tư. Với đào tạo, cần xem xét sinh viên thực sự làm được gì; với phòng thí nghiệm, cần đánh giá mức độ khai thác và chất lượng kết quả tạo ra; còn với nghiên cứu ứng dụng, cần xác định công nghệ đã tiến thêm bước nào và có đối tác nào sẵn sàng sử dụng. Khi đội ngũ, hạ tầng và cơ chế cùng hướng đến những đầu ra cụ thể, đào tạo STEM mới có thể gắn kết thực chất với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và nhu cầu xã hội.
GD&TĐ - Mô hình “Hòm thư an toàn học đường” tại Tuyên Quang mở thêm kênh tiếp nhận thông tin, chủ động phòng ngừa bạo lực học đường.
2026-10-26 08:32
Vinh danh 37 trường học điển hình và hơn 4.300 chuyên gia giáo dục sáng tạo
GD&TĐ - Việt Nam có 37 trường học điển hình và hơn 4.300 chuyên gia giáo dục sáng tạo được Microsoft Elevate toàn cầu ghi nhận.
2026-10-26 08:30
Tập huấn chuyên gia an toàn số học đường, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng
GD&TĐ - Ngày 25/10, Tiểu ban Chỉ đạo An ninh mạng tỉnh Lâm Đồng tổ chức Chương trình tập huấn Chuyên gia An toàn số học đường.
2026-10-26 08:30
Hơn 500 học sinh Thủ đô kiến tạo tương lai xanh tại sân chơi tài năng công nghệ
GD&TĐ - Từ mô hình nhà kính đến phần mềm phân loại rác bằng trí tuệ nhân tạo, các em học sinh chứng minh rằng khoa học có thể bắt đầu từ điều rất gần gũi.
2026-10-26 08:28
Nâng cao hiểu biết và bản lĩnh pháp lý số cho thế hệ trẻ tại TPHCM
GD&TĐ - Cuộc thi CyberLaw Challenge 2026 diễn ra sôi nổi tại TPHCM, góp phần nâng cao hiểu biết và bản lĩnh pháp lý số cho các sinh viên.
2026-10-26 08:28
STEM được mùa tuyển sinh
GD&TĐ - Tuyển sinh đại học năm 2026 ghi nhận hơn 467.000 thí sinh đăng ký nhóm ngành STEM, chiếm 53,4% cả nước.
2026-10-26 08:26
Từ bài học STEM phát triển năng lực qua khám phá, trải nghiệm
GD&TĐ - Thông qua các bài học STEM gắn với thực tiễn, học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức liên môn để tìm kiếm giải pháp, thử nghiệm và điều chỉnh.
2026-10-26 08:26
Quảng Trị tăng cường giáo dục an toàn giao thông cho học sinh
GD&TĐ - Chương trình giáo dục pháp luật và hướng dẫn kỹ năng lái xe an toàn, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông cho học sinh Quảng Trị.
2026-10-26 08:25
AI tạo sinh thay đổi giáo dục đại học thế nào?
GD&TĐ - Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) đang tạo ra một bước đột phá trong giáo dục đại học.
2026-10-26 08:25
Học sinh trung học chinh phục sân chơi tranh biện, hùng biện bằng tiếng Anh
GD&TĐ - 370 HS từ 10 tỉnh, thành của Việt Nam và Thượng Hải (Trung Quốc) tranh tài tại Chung kết thi tranh biện và hùng biện đa thể thức (OIDSC) 2026.