Quy định trường hợp du học sinh sử dụng ngân sách Nhà nước phải đền bù 100% chi phí
2026/10/07 17:19
GD&TĐ - Nghị định số 322/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định 3 trường hợp du học sinh phải đền bù 100% chi phí đào tạo.
3 trường hợp du học sinh phải đền bù chi phí đào tạo
Chính phủ ban hành Nghị định số 322/2026/NĐ-CP ngày 17/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.
Đáng chú ý, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP về chi phí đền bù và các trường hợp không phải đền bù chi phí đào tạo.
Theo quy định, chi phí đền bù là toàn bộ chi phí đào tạo được ngân sách Nhà nước chi trả cho du học sinh, gồm học phí, chi phí đi lại, sinh hoạt phí và các chi phí khác liên quan đến học tập. Các khoản chi phí này do cơ quan cử đi học cung cấp.
Đối với du học sinh không phải là công chức, viên chức quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP quy định phải đền bù 100% chi phí đào tạo nếu thuộc một trong các trường hợp.
Thứ nhất, tự ý bỏ học hoặc bỏ việc trong thời gian đào tạo.
Thứ hai, bị kỷ luật buộc thôi học.
Thứ ba, không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.
Quy định mới xác định cụ thể các trường hợp người học sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước để đào tạo nhưng không hoàn thành nghĩa vụ theo yêu cầu phải thực hiện trách nhiệm đền bù chi phí đào tạo.
Ông Lê Tuấn Tứ - nguyên Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Khánh Hòa phân tích, dưới góc nhìn chính sách giáo dục, quy định yêu cầu đền bù 100% chi phí đào tạo trong các trường hợp tự ý bỏ học, bị buộc thôi học hoặc không được cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp là cơ chế cần thiết để bảo đảm trách nhiệm của người học, nhưng cần được thực hiện minh bạch và công bằng.
Trước hết, quy định này góp phần khắc phục tình trạng đầu tư ngân sách nhưng người được đào tạo không hoàn thành nghĩa vụ. Đối với các chương trình đào tạo sử dụng nguồn lực Nhà nước, mỗi suất học tập không chỉ là quyền lợi của cá nhân mà còn gắn với chi phí xã hội.
Khi người học tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo hoặc vi phạm đến mức bị buộc thôi học, việc yêu cầu hoàn trả chi phí là cách xác lập nguyên tắc: được hưởng chính sách phải đi cùng trách nhiệm tương ứng. Đây cũng là biện pháp nâng cao ý thức, kỷ luật và sự nghiêm túc của người học ngay từ khi tham gia chương trình.
Sinh viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Ảnh minh họa: NTCC.
Chính sách đền bù không nên nhìn dưới góc độ “thu hồi tiền”
Tuy nhiên, ông Lê Tuấn Tứ cho rằng, điểm cần đặc biệt lưu ý là “không được cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp” không nên được hiểu một cách máy móc là mọi trường hợp không tốt nghiệp đều phải bồi hoàn 100% chi phí.
Trong thực tế, nguyên nhân không hoàn thành chương trình có thể rất khác nhau. Có trường hợp do ý chí chủ quan của người học; nhưng cũng có thể phát sinh từ hoàn cảnh bất khả kháng, vấn đề sức khỏe, thay đổi tổ chức đào tạo hoặc những nguyên nhân khách quan khác.
Vì vậy, khi áp dụng quy định, cần làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm, trình tự xem xét và cơ chế miễn, giảm hoặc xử lý đối với những trường hợp có lý do chính đáng.
Quan trọng hơn, chính sách đền bù không nên chỉ được nhìn dưới góc độ “thu hồi tiền”, mà phải hướng tới nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực.
Muốn vậy, các cơ sở đào tạo cần thông tin đầy đủ cho người học về quyền lợi, nghĩa vụ và mức trách nhiệm tài chính ngay từ đầu; đồng thời bảo đảm quá trình đào tạo, đánh giá và xét tốt nghiệp khách quan, minh bạch.
Nếu được triển khai đúng tinh thần này, quy định sẽ tạo ra sự cân bằng giữa quyền được hỗ trợ đào tạo và trách nhiệm của người được hưởng chính sách, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước và tính kỷ luật trong đào tạo.
Theo bà Tăng Thị Ngọc Mai - đại biểu Quốc hội khóa XIV, quy định người học phải đền bù 100% chi phí đào tạo trong những trường hợp được nêu là cần thiết để bảo đảm tính nghiêm minh của chính sách.
Nhà nước bỏ kinh phí đào tạo thì người được hưởng chính sách cũng phải có trách nhiệm tương xứng. Không thể có tình trạng sử dụng nguồn lực công để đào tạo nhưng người học tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc vi phạm kỷ luật mà không phải chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên, bà Mai cho rằng, điều quan trọng nhất là phải xác định đúng người, đúng lỗi và đúng trách nhiệm. Không nên cứ không hoàn thành chương trình hoặc không được cấp văn bằng, chứng chỉ là mặc nhiên yêu cầu người học bồi hoàn toàn bộ chi phí. Phải xem nguyên nhân xuất phát từ đâu, trách nhiệm thuộc về ai và người học có lỗi đến mức nào.
Chính sách này sẽ chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi vừa giữ được kỷ cương, vừa bảo đảm công bằng. Bà Mai nhấn mạnh, chúng ta cần chống tâm lý coi nguồn lực Nhà nước là thứ có thể sử dụng rồi bỏ dở mà không chịu trách nhiệm, nhưng đồng thời cũng phải ngăn ngừa việc áp dụng quy định một cách cơ học, đẩy toàn bộ rủi ro của quá trình đào tạo sang người học. Đây là yêu cầu quan trọng để chính sách hỗ trợ đào tạo của Nhà nước vừa nghiêm minh, vừa nhân văn và đúng đối tượng.
Hiện đang là du học sinh bên Úc, Lê Mạnh Tuấn cho rằng, quy định du học sinh sử dụng ngân sách Nhà nước phải đền bù 100% chi phí đào tạo trong một số trường hợp là cần thiết, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người khi được trao cơ hội học tập ở nước ngoài.
Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí du học là cơ hội quý giá để tiếp cận tri thức, công nghệ và phương pháp đào tạo tiên tiến. Vì vậy, mỗi du học sinh cần xác định rõ trách nhiệm của mình, nghiêm túc trong học tập, tuân thủ quy định của cơ sở đào tạo và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
Nguồn kinh phí này được hình thành từ ngân sách Nhà nước, do đó việc sử dụng hiệu quả không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn thể hiện sự trân trọng đối với sự đầu tư của đất nước.
Mạnh Tuấn nhìn nhận, quy định cũng góp phần nâng cao tính chủ động của du học sinh ngay từ khi lựa chọn chương trình học, giúp mỗi người cân nhắc kỹ mục tiêu, năng lực và kế hoạch học tập trước khi quyết định.
Bên cạnh đó, việc phổ biến rõ ràng các điều kiện, nghĩa vụ và trách nhiệm đền bù sẽ giúp người học hiểu đúng, thực hiện đúng quy định. Qua đó, mỗi du học sinh có thêm động lực phấn đấu, hoàn thành chương trình và vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy để đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Bà Mai cũng đề nghị phải bảo đảm quyền được giải trình và khiếu nại của người học. Một quyết định buộc bồi hoàn một khoản kinh phí lớn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của một người, do đó quá trình xác định nghĩa vụ tài chính phải công khai, có căn cứ và có cơ chế để người học bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Sinh viên Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam. Ảnh minh họa/BUV.
3 trường hợp du học sinh phải đền bù chi phí đào tạo
Chính phủ ban hành Nghị định số 322/2026/NĐ-CP ngày 17/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật.
Đáng chú ý, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP về chi phí đền bù và các trường hợp không phải đền bù chi phí đào tạo.
Theo quy định, chi phí đền bù là toàn bộ chi phí đào tạo được ngân sách Nhà nước chi trả cho du học sinh, gồm học phí, chi phí đi lại, sinh hoạt phí và các chi phí khác liên quan đến học tập. Các khoản chi phí này do cơ quan cử đi học cung cấp.
Đối với du học sinh không phải là công chức, viên chức quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định số 86/2021/NĐ-CP, Nghị định số 322/2026/NĐ-CP quy định phải đền bù 100% chi phí đào tạo nếu thuộc một trong các trường hợp.
Thứ nhất, tự ý bỏ học hoặc bỏ việc trong thời gian đào tạo.
Thứ hai, bị kỷ luật buộc thôi học.
Thứ ba, không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.
Quy định mới xác định cụ thể các trường hợp người học sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước để đào tạo nhưng không hoàn thành nghĩa vụ theo yêu cầu phải thực hiện trách nhiệm đền bù chi phí đào tạo.
Ông Lê Tuấn Tứ - nguyên Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Khánh Hòa phân tích, dưới góc nhìn chính sách giáo dục, quy định yêu cầu đền bù 100% chi phí đào tạo trong các trường hợp tự ý bỏ học, bị buộc thôi học hoặc không được cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp là cơ chế cần thiết để bảo đảm trách nhiệm của người học, nhưng cần được thực hiện minh bạch và công bằng.
Trước hết, quy định này góp phần khắc phục tình trạng đầu tư ngân sách nhưng người được đào tạo không hoàn thành nghĩa vụ. Đối với các chương trình đào tạo sử dụng nguồn lực Nhà nước, mỗi suất học tập không chỉ là quyền lợi của cá nhân mà còn gắn với chi phí xã hội.
Khi người học tự ý bỏ học, bỏ việc trong thời gian đào tạo hoặc vi phạm đến mức bị buộc thôi học, việc yêu cầu hoàn trả chi phí là cách xác lập nguyên tắc: được hưởng chính sách phải đi cùng trách nhiệm tương ứng. Đây cũng là biện pháp nâng cao ý thức, kỷ luật và sự nghiêm túc của người học ngay từ khi tham gia chương trình.
Sinh viên Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Ảnh minh họa: NTCC.
Chính sách đền bù không nên nhìn dưới góc độ “thu hồi tiền”
Tuy nhiên, ông Lê Tuấn Tứ cho rằng, điểm cần đặc biệt lưu ý là “không được cấp văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp” không nên được hiểu một cách máy móc là mọi trường hợp không tốt nghiệp đều phải bồi hoàn 100% chi phí.
Trong thực tế, nguyên nhân không hoàn thành chương trình có thể rất khác nhau. Có trường hợp do ý chí chủ quan của người học; nhưng cũng có thể phát sinh từ hoàn cảnh bất khả kháng, vấn đề sức khỏe, thay đổi tổ chức đào tạo hoặc những nguyên nhân khách quan khác.
Vì vậy, khi áp dụng quy định, cần làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm, trình tự xem xét và cơ chế miễn, giảm hoặc xử lý đối với những trường hợp có lý do chính đáng.
Quan trọng hơn, chính sách đền bù không nên chỉ được nhìn dưới góc độ “thu hồi tiền”, mà phải hướng tới nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực.
Muốn vậy, các cơ sở đào tạo cần thông tin đầy đủ cho người học về quyền lợi, nghĩa vụ và mức trách nhiệm tài chính ngay từ đầu; đồng thời bảo đảm quá trình đào tạo, đánh giá và xét tốt nghiệp khách quan, minh bạch.
Nếu được triển khai đúng tinh thần này, quy định sẽ tạo ra sự cân bằng giữa quyền được hỗ trợ đào tạo và trách nhiệm của người được hưởng chính sách, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực Nhà nước và tính kỷ luật trong đào tạo.
Theo bà Tăng Thị Ngọc Mai - đại biểu Quốc hội khóa XIV, quy định người học phải đền bù 100% chi phí đào tạo trong những trường hợp được nêu là cần thiết để bảo đảm tính nghiêm minh của chính sách.
Nhà nước bỏ kinh phí đào tạo thì người được hưởng chính sách cũng phải có trách nhiệm tương xứng. Không thể có tình trạng sử dụng nguồn lực công để đào tạo nhưng người học tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc vi phạm kỷ luật mà không phải chịu trách nhiệm.
Tuy nhiên, bà Mai cho rằng, điều quan trọng nhất là phải xác định đúng người, đúng lỗi và đúng trách nhiệm. Không nên cứ không hoàn thành chương trình hoặc không được cấp văn bằng, chứng chỉ là mặc nhiên yêu cầu người học bồi hoàn toàn bộ chi phí. Phải xem nguyên nhân xuất phát từ đâu, trách nhiệm thuộc về ai và người học có lỗi đến mức nào.
Chính sách này sẽ chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi vừa giữ được kỷ cương, vừa bảo đảm công bằng. Bà Mai nhấn mạnh, chúng ta cần chống tâm lý coi nguồn lực Nhà nước là thứ có thể sử dụng rồi bỏ dở mà không chịu trách nhiệm, nhưng đồng thời cũng phải ngăn ngừa việc áp dụng quy định một cách cơ học, đẩy toàn bộ rủi ro của quá trình đào tạo sang người học. Đây là yêu cầu quan trọng để chính sách hỗ trợ đào tạo của Nhà nước vừa nghiêm minh, vừa nhân văn và đúng đối tượng.
Hiện đang là du học sinh bên Úc, Lê Mạnh Tuấn cho rằng, quy định du học sinh sử dụng ngân sách Nhà nước phải đền bù 100% chi phí đào tạo trong một số trường hợp là cần thiết, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người khi được trao cơ hội học tập ở nước ngoài.
Được Nhà nước hỗ trợ kinh phí du học là cơ hội quý giá để tiếp cận tri thức, công nghệ và phương pháp đào tạo tiên tiến. Vì vậy, mỗi du học sinh cần xác định rõ trách nhiệm của mình, nghiêm túc trong học tập, tuân thủ quy định của cơ sở đào tạo và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết.
Nguồn kinh phí này được hình thành từ ngân sách Nhà nước, do đó việc sử dụng hiệu quả không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn thể hiện sự trân trọng đối với sự đầu tư của đất nước.
Mạnh Tuấn nhìn nhận, quy định cũng góp phần nâng cao tính chủ động của du học sinh ngay từ khi lựa chọn chương trình học, giúp mỗi người cân nhắc kỹ mục tiêu, năng lực và kế hoạch học tập trước khi quyết định.
Bên cạnh đó, việc phổ biến rõ ràng các điều kiện, nghĩa vụ và trách nhiệm đền bù sẽ giúp người học hiểu đúng, thực hiện đúng quy định. Qua đó, mỗi du học sinh có thêm động lực phấn đấu, hoàn thành chương trình và vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã tích lũy để đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Bà Mai cũng đề nghị phải bảo đảm quyền được giải trình và khiếu nại của người học. Một quyết định buộc bồi hoàn một khoản kinh phí lớn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của một người, do đó quá trình xác định nghĩa vụ tài chính phải công khai, có căn cứ và có cơ chế để người học bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.