Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Nghiện lướt video ngắn, mất dần khả năng tập trung

2026/07/21 14:49

GD&TĐ - Sự phổ biến của các video ngắn đặt ra câu hỏi về việc liệu chúng có đang thay đổi cách não bộ con người vận hành hay không.


Video ngắn trên TikTok, Instagram hay YouTube Shorts không chỉ thu hút người xem bằng nội dung hấp dẫn mà còn được thiết kế để kích thích hệ thống hưng phấn của não bộ. Điều đó khiến con người ngày càng phụ thuộc vào công nghệ.

Não bộ bị “khóa”

Với nhiều người, ngày mới bắt đầu không phải bằng tiếng chuông báo thức mà bằng một cú vuốt màn hình. Trước khi rời khỏi giường, họ mở TikTok, Instagram Reels hay YouTube Shorts để xem vài video ngắn, rồi nhanh chóng biến thành vài chục video. Vài chục phút kéo dài thành hàng giờ và đến cuối ngày, họ lặp lại thói quen ấy.
Sự phổ biến của các video ngắn đặt ra câu hỏi về việc liệu chúng có đang thay đổi cách não bộ con người vận hành hay không.
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Bayreuth (Đức) đã tiến hành một nghiên cứu tổng hợp quy mô lớn, tập trung chủ yếu vào trẻ em và thanh thiếu niên, nhóm đối tượng sử dụng mạng xã hội nhiều nhất hiện nay.
Dự án được công bố trên tạp chí European Child and Adolescent Psychiatry đã phân tích 42 nghiên cứu với gần 30.000 người tham gia.
Theo các nhà khoa học, video ngắn không chỉ là phiên bản rút gọn của truyền hình hay video trực tuyến truyền thống. Chúng tạo nên một môi trường truyền thông hoàn toàn khác biệt nhờ 3 đặc điểm gồm thuật toán cá nhân hóa nội dung, cơ chế cuộn vô hạn không có điểm dừng tự nhiên và sự chuyển đổi cực nhanh giữa các video liên tiếp.
Khác với truyền hình, nơi người xem chủ động lựa chọn chương trình và có thời điểm kết thúc rõ ràng, các nền tảng như TikTok gần như loại bỏ hoàn toàn nhu cầu ra quyết định. Thuật toán liên tục chọn video tiếp theo, khiến người dùng chỉ cần tiếp tục vuốt màn hình mà không phải suy nghĩ.
Chuyên gia Aza Raskin, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn, cho hay điều khiến TikTok khác biệt không nằm ở giao diện, mà ở một hệ thống siêu máy tính khổng lồ phía sau màn hình. Được huấn luyện từ hành vi của hàng tỷ người dùng trên toàn thế giới, hệ thống này liên tục học hỏi để dự đoán chính xác nội dung nào có khả năng khiến từng cá nhân dừng lại thêm vài giây, rồi vài phút, rồi hàng giờ.
PGS Anna Lembke, chuyên gia Tâm thần học tại Trường Y Đại học Stanford, Mỹ, nhận định đằng sau chứng “nghiện” TikTok là cơ chế hoạt động của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác hưng phấn. Những hình ảnh chuyển động đã có sức hấp dẫn tự nhiên đối với não bộ động vật có vú. Khi kết hợp với thời lượng ngắn, nhịp chuyển cảnh liên tục và nội dung luôn thay đổi, video ngắn trở thành một hình thức kích thích đặc biệt mạnh.
Trải nghiệm này giống với việc hút thuốc lá vì người dùng biết mình nên dừng lại nhưng lại rất khó làm được một khi đã bắt đầu. Con người cũng dần mất đi khả năng tận hưởng những niềm vui đời thực như đọc sách, trò chuyện với bạn bè hay ngắm cảnh thiên nhiên.
Xem video ngắn khiến người dùng cảm thấy hưng phấn.


Tác động từ AI

Dù tính năng cuộn vô hạn thường được xem là nguyên nhân chính khiến người dùng khó dừng lại, nhiều chuyên gia thần kinh học cho rằng yếu tố quan trọng hơn chính là khả năng cá nhân hóa.
Chuyên gia thần kinh học Ben Rein nhận định thao tác cuộn vô hạn và sự mới lạ chỉ là phương thức truyền tải, còn thuật toán cá nhân hóa mới là động lực cốt lõi. Mỗi tài khoản TikTok giống như một phòng thí nghiệm thu nhỏ, nơi hệ thống thực hiện hàng nghìn phép thử mỗi ngày để xác định chính xác loại nội dung khiến từng người tiếp tục xem lâu nhất.
Thuật toán không chỉ ghi nhận người dùng thích điều gì, mà còn phân tích thời gian dừng lại ở từng video, tốc độ vuốt, nội dung được xem lại, chia sẻ hay bình luận. Nhờ đó, hệ thống ngày càng hiểu người dùng hơn chính bản thân họ.
Đáng chú ý, trong 42 nghiên cứu được tổng hợp, nhiều biểu hiện xuất hiện khá nhất quán, bao gồm giảm khả năng tập trung, suy giảm trí nhớ làm việc, tăng mức độ lo âu và trầm cảm, khả năng tự kiểm soát yếu hơn cùng các dấu hiệu giống hành vi nghiện.
Tuy nhiên, bà Marlene Ebster, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết hiện vẫn chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chắc chắn rằng video ngắn trực tiếp gây suy giảm chức năng não hoặc tạo ra những thay đổi cực đoan trong hệ thống dopamine. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ cho thấy mối liên hệ chứ chưa chứng minh được quan hệ nhân quả.
Vì vậy, thay vì đề xuất cấm hoàn toàn các nền tảng video ngắn, nhóm nghiên cứu cho rằng điều quan trọng hơn là giúp người dùng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, hiểu được cách các thuật toán hoạt động cũng như cách thiết kế nền tảng ảnh hưởng đến hành vi của mình. Trong tương lai, thách thức này có thể còn trở nên lớn hơn khi trí tuệ nhân tạo phát triển.
“Nhân loại mới chỉ ở giai đoạn đầu của công nghệ điều khiển sự chú ý. Với sự xuất hiện của AI tạo sinh, các nền tảng sẽ không chỉ lựa chọn nội dung sẵn có mà còn có thể tạo ra vô số video, hình ảnh hay thậm chí các mối quan hệ ảo được cá nhân hóa hoàn toàn để giữ chân từng người dùng”, chuyên gia Aza Raskin, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn, nhấn mạnh.
Video ngắn là nội dung đặc trưng của TikTok.

Video ngắn trên TikTok, Instagram hay YouTube Shorts không chỉ thu hút người xem bằng nội dung hấp dẫn mà còn được thiết kế để kích thích hệ thống hưng phấn của não bộ. Điều đó khiến con người ngày càng phụ thuộc vào công nghệ.

Não bộ bị “khóa”

Với nhiều người, ngày mới bắt đầu không phải bằng tiếng chuông báo thức mà bằng một cú vuốt màn hình. Trước khi rời khỏi giường, họ mở TikTok, Instagram Reels hay YouTube Shorts để xem vài video ngắn, rồi nhanh chóng biến thành vài chục video. Vài chục phút kéo dài thành hàng giờ và đến cuối ngày, họ lặp lại thói quen ấy.
Sự phổ biến của các video ngắn đặt ra câu hỏi về việc liệu chúng có đang thay đổi cách não bộ con người vận hành hay không.
Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Bayreuth (Đức) đã tiến hành một nghiên cứu tổng hợp quy mô lớn, tập trung chủ yếu vào trẻ em và thanh thiếu niên, nhóm đối tượng sử dụng mạng xã hội nhiều nhất hiện nay.
Dự án được công bố trên tạp chí European Child and Adolescent Psychiatry đã phân tích 42 nghiên cứu với gần 30.000 người tham gia.
Theo các nhà khoa học, video ngắn không chỉ là phiên bản rút gọn của truyền hình hay video trực tuyến truyền thống. Chúng tạo nên một môi trường truyền thông hoàn toàn khác biệt nhờ 3 đặc điểm gồm thuật toán cá nhân hóa nội dung, cơ chế cuộn vô hạn không có điểm dừng tự nhiên và sự chuyển đổi cực nhanh giữa các video liên tiếp.
Khác với truyền hình, nơi người xem chủ động lựa chọn chương trình và có thời điểm kết thúc rõ ràng, các nền tảng như TikTok gần như loại bỏ hoàn toàn nhu cầu ra quyết định. Thuật toán liên tục chọn video tiếp theo, khiến người dùng chỉ cần tiếp tục vuốt màn hình mà không phải suy nghĩ.
Chuyên gia Aza Raskin, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn, cho hay điều khiến TikTok khác biệt không nằm ở giao diện, mà ở một hệ thống siêu máy tính khổng lồ phía sau màn hình. Được huấn luyện từ hành vi của hàng tỷ người dùng trên toàn thế giới, hệ thống này liên tục học hỏi để dự đoán chính xác nội dung nào có khả năng khiến từng cá nhân dừng lại thêm vài giây, rồi vài phút, rồi hàng giờ.
PGS Anna Lembke, chuyên gia Tâm thần học tại Trường Y Đại học Stanford, Mỹ, nhận định đằng sau chứng “nghiện” TikTok là cơ chế hoạt động của dopamine, chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác hưng phấn. Những hình ảnh chuyển động đã có sức hấp dẫn tự nhiên đối với não bộ động vật có vú. Khi kết hợp với thời lượng ngắn, nhịp chuyển cảnh liên tục và nội dung luôn thay đổi, video ngắn trở thành một hình thức kích thích đặc biệt mạnh.
Trải nghiệm này giống với việc hút thuốc lá vì người dùng biết mình nên dừng lại nhưng lại rất khó làm được một khi đã bắt đầu. Con người cũng dần mất đi khả năng tận hưởng những niềm vui đời thực như đọc sách, trò chuyện với bạn bè hay ngắm cảnh thiên nhiên.
Xem video ngắn khiến người dùng cảm thấy hưng phấn.


Tác động từ AI

Dù tính năng cuộn vô hạn thường được xem là nguyên nhân chính khiến người dùng khó dừng lại, nhiều chuyên gia thần kinh học cho rằng yếu tố quan trọng hơn chính là khả năng cá nhân hóa.
Chuyên gia thần kinh học Ben Rein nhận định thao tác cuộn vô hạn và sự mới lạ chỉ là phương thức truyền tải, còn thuật toán cá nhân hóa mới là động lực cốt lõi. Mỗi tài khoản TikTok giống như một phòng thí nghiệm thu nhỏ, nơi hệ thống thực hiện hàng nghìn phép thử mỗi ngày để xác định chính xác loại nội dung khiến từng người tiếp tục xem lâu nhất.
Thuật toán không chỉ ghi nhận người dùng thích điều gì, mà còn phân tích thời gian dừng lại ở từng video, tốc độ vuốt, nội dung được xem lại, chia sẻ hay bình luận. Nhờ đó, hệ thống ngày càng hiểu người dùng hơn chính bản thân họ.
Đáng chú ý, trong 42 nghiên cứu được tổng hợp, nhiều biểu hiện xuất hiện khá nhất quán, bao gồm giảm khả năng tập trung, suy giảm trí nhớ làm việc, tăng mức độ lo âu và trầm cảm, khả năng tự kiểm soát yếu hơn cùng các dấu hiệu giống hành vi nghiện.
Tuy nhiên, bà Marlene Ebster, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết hiện vẫn chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chắc chắn rằng video ngắn trực tiếp gây suy giảm chức năng não hoặc tạo ra những thay đổi cực đoan trong hệ thống dopamine. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ cho thấy mối liên hệ chứ chưa chứng minh được quan hệ nhân quả.
Vì vậy, thay vì đề xuất cấm hoàn toàn các nền tảng video ngắn, nhóm nghiên cứu cho rằng điều quan trọng hơn là giúp người dùng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên, hiểu được cách các thuật toán hoạt động cũng như cách thiết kế nền tảng ảnh hưởng đến hành vi của mình. Trong tương lai, thách thức này có thể còn trở nên lớn hơn khi trí tuệ nhân tạo phát triển.
“Nhân loại mới chỉ ở giai đoạn đầu của công nghệ điều khiển sự chú ý. Với sự xuất hiện của AI tạo sinh, các nền tảng sẽ không chỉ lựa chọn nội dung sẵn có mà còn có thể tạo ra vô số video, hình ảnh hay thậm chí các mối quan hệ ảo được cá nhân hóa hoàn toàn để giữ chân từng người dùng”, chuyên gia Aza Raskin, đồng sáng lập Trung tâm Công nghệ Nhân văn, nhấn mạnh.
Chia sẻ
nghiện mạnggiáo dục công nghệTikTokInstagramYouTube Shortsnão bộvideo ngắnmạng xã hộidopamineAI tạo sinh
Theo DW
Theo Nguyễn Minh
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/07/21 06:53 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục thể chất

Tích hợp công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong phẫu thuật nội soi tại Việt Nam
Giáo dục thể chất

Tích hợp công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong phẫu thuật nội soi tại Việt Nam

Cách hữu hiệu phòng ngừa cận thị học đường
Giáo dục thể chất

Cách hữu hiệu phòng ngừa cận thị học đường

Khởi động hành trình 'Mang ánh sáng đến cộng đồng'
Giáo dục thể chất

Khởi động hành trình 'Mang ánh sáng đến cộng đồng'

Sở Y tế Thanh Hóa báo cáo vụ xe cấp cứu chở người bệnh thu hơn 9 triệu đồng
Giáo dục thể chất

Sở Y tế Thanh Hóa báo cáo vụ xe cấp cứu chở người bệnh thu hơn 9 triệu đồng

Bệnh viện Bình Dân hỗ trợ BVĐK Bà Rịa nâng cao năng lực phẫu thuật, quản trị
Giáo dục thể chất

Bệnh viện Bình Dân hỗ trợ BVĐK Bà Rịa nâng cao năng lực phẫu thuật, quản trị

Màn hình không thay được cha mẹ
Giáo dục thể chất

Màn hình không thay được cha mẹ

Mới nhất

2026-09-24 10:26

Học sinh làm dự án cộng đồng: Cách học từ thực tiễn

GD&TĐ - Dự án Chamellia do nhóm học sinh Hà Nội thực hiện là minh chứng truyền cảm hứng về mô hình học tập qua thực tiễn kết hợp phục vụ cộng đồng.

Học sinh làm dự án cộng đồng: Cách học từ thực tiễn
2026-09-24 10:25

Nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 96 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam

GD&TĐ - Ngày 24/9, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Việt Nam tổ chức họp báo thông tin về chuỗi hoạt động kỷ niệm 96 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam và Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10).

Nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 96 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam
2026-09-24 10:24

Phát triển con người và kỹ năng số để làm chủ công nghệ

GD&TĐ - Để phát triển công cụ số trong trường học hiệu quả, trước tiên cần phát triển kỹ năng sử dụng công nghệ số một cách có trách nhiệm.

Phát triển con người và kỹ năng số để làm chủ công nghệ
2026-09-24 10:24

Chất lượng dạy - học tiếng Anh không được quyết định bởi yếu tố riêng lẻ

GD&TĐ - Từ các mô hình ở một số nước cho thấy, chất lượng dạy-học tiếng Anh không được quyết định bởi yếu tố riêng lẻ, mà là kết quả của hệ thống hợp tác.

Chất lượng dạy - học tiếng Anh không được quyết định bởi yếu tố riêng lẻ
2026-09-24 10:23

Gắn đào tạo nghề với doanh nghiệp, mở rộng cơ hội việc làm cho người học

GD&TĐ - Gắn đào tạo nghề với nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động giúp người học nâng cao kỹ năng, tìm việc, phát triển sinh kế.

Gắn đào tạo nghề với doanh nghiệp, mở rộng cơ hội việc làm cho người học
2026-09-24 10:22

Tạo sân chơi Robotics cho học sinh, sinh viên trên toàn quốc

GD&TĐ - Giải vô địch Robotics Việt Nam 2026–2027 chính thức mở đăng ký, tạo sân chơi để học sinh, sinh viên phát triển kỹ năng công nghệ.

Tạo sân chơi Robotics cho học sinh, sinh viên trên toàn quốc
2026-09-24 10:18

Trường miền núi ứng dụng AI vào giảng dạy

GD&TĐ - Trường THPT Chiềng Sinh, phường Chiềng Sinh, tỉnh Sơn La đổi mới sáng tạo, áp dụng AI vào giảng dạy cho học sinh, hỗ trợ các em trong học tập.

Trường miền núi ứng dụng AI vào giảng dạy
2026-09-24 10:18

Nâng chất đội ngũ nhà giáo trước yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập

GD&TĐ - Trường Tiểu học và THCS Lý Thường Kiệt phát huy năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyên môn, tạo nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục.

Nâng chất đội ngũ nhà giáo trước yêu cầu chuyển đổi số và hội nhập
2026-09-24 10:17

Khi dữ liệu trở thành công cụ quản trị nhà trường

GD&TĐ - Dữ liệu giúp cán bộ quản lý nắm sát hoạt động nhà trường, có thêm căn cứ trong điều hành và ra quyết định.

Khi dữ liệu trở thành công cụ quản trị nhà trường
2026-09-24 10:16

Tháo gỡ áp lực dự giờ, trường mầm non tiếp sức cho giáo viên đổi mới

GD&TĐ - Từng là nỗi lo của giáo viên, những buổi dự giờ ở Trường Mầm non Lũng Thầu (Tuyên Quang) nay trở thành cơ hội để tập thể cán bộ và giáo viên cùng học hỏi và đổi mới.

Tháo gỡ áp lực dự giờ, trường mầm non tiếp sức cho giáo viên đổi mới