Nhiều nhà khoa học tại Việt Nam vào tốp 2% thế giới năm 2026
2026/10/11 14:27
GD&TĐ - Nhóm nghiên cứu của Đại học Stanford (Hoa Kỳ) và Nhà xuất bản Elsevier công bố bảng xếp hạng các nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2026.
Bảng xếp hạng này thường được gọi là danh sách “Top 2% nhà khoa học thế giới”.
Ở danh sách thành tựu trọn đời, Việt Nam có 121 nhà khoa học đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Trường Đại học VinUni dẫn đầu về số lượng, còn Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở duy nhất có hai nhà khoa học trong top 10.
Bảng xếp hạng do nhóm của GS John Ioannidis (Đại học Stanford) xây dựng từ cơ sở dữ liệu Scopus trên hơn 7 triệu nhà khoa học toàn thế giới. Thứ hạng căn cứ vào chỉ số ảnh hưởng tổng hợp c-score, gồm sáu thành phần là tổng số trích dẫn (không tính tự trích dẫn); chỉ số h; chỉ số hm; số trích dẫn của các bài là tác giả duy nhất, tác giả đầu và tác giả cuối.
Nhờ vậy, chỉ số này đề cao vai trò dẫn dắt thực chất của nhà khoa học trong công trình, thay vì số lượng công bố hay số lần đứng tên đồng tác giả. Các nhà khoa học được phân vào 20 lĩnh vực và 174 ngành hẹp, và chỉ những người thuộc nhóm 2% dẫn đầu của ngành hoặc 100.000 người có c-score cao nhất mới có tên trong danh sách. Đây được xem là một trong những bảng xếp hạng cá nhân uy tín và khách quan nhất hiện nay.
Danh sách quan trọng nhất của bảng xếp hạng là danh sách thành tựu trọn đời, tính toàn bộ ảnh hưởng khoa học tích luỹ trong suốt sự nghiệp.
Top 10 nhà khoa học có địa chỉ Việt Nam xếp hạng cao nhất theo thành tựu trọn đời:
Dưới đây là 10 nhà khoa học tại Việt Nam có thứ hạng cao nhất ở danh sách này:
Hạng VN
Nhà khoa học
Cơ quan
Lĩnh vực
Hạng TG
1
GS David R. Bangsberg
Trường Đại học VinUni
Y sinh học
8.926
2
PGS.TS Hoàng Anh Tuấn
Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh
Năng lượng
11.632
3
GS J. Kevin Baird
Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam
Y học nhiệt đới
13.083
4
GS Đỗ Ngọc Minh
Trường Đại học VinUni
Trí tuệ nhân tạo
19.173
5
GS Choi Seung Bok
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Vật liệu
20.647
6
GS.TS Trần Xuân Bách
Đại học Quốc gia Hà Nội
Y tế công cộng
22.065
7
GS Phan Thiện Nhân
Trường Đại học Cửu Long
Hoá học polymer
22.373
8
GS.TS Võ Xuân Vinh
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Tài chính
24.187
9
GS Nguyễn Minh Thọ
Trường Đại học VinUni
Vật lý hoá học
24.197
10
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức
Đại học Quốc gia Hà Nội
Kỹ thuật Công nghệ
27.065
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) là đại diện duy nhất của lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, lĩnh vực gắn trực tiếp với kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ của đất nước.
Bảng xếp hạng này (đã loại đi các tự trích dẫn) phản ánh rõ hai dòng chảy đang song hành của khoa học Việt Nam. Dòng thứ nhất là các nhà khoa học quốc tế và các giáo sư gốc Việt từ những đại học lớn của thế giới đến làm việc tại Việt Nam.
Nhờ chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Nhà nước cùng sự chủ động của các cơ sở giáo dục đại học, ngày càng nhiều giáo sư và nhà khoa học từ Hoa Kỳ, Bỉ, Úc, Pháp và nhiều quốc gia khác đã chọn Việt Nam làm nơi nghiên cứu và giảng dạy. Trong đó các đại học tư thục có nhiều thu hút nhất.
Trường Đại học VinUni là ví dụ tiêu biểu, chỉ sau vài năm thành lập đã quy tụ được đội ngũ giáo sư quốc tế có uy tín và trở thành cơ sở có nhiều nhà khoa học được xếp hạng nhất cả nước.
Dòng thứ hai là các nhà khoa học Việt Nam xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước và bền bỉ vươn lên tầm thế giới bằng chính các công trình thực hiện tại Việt Nam, cùng học trò Việt Nam.
Trong top 10 thế giới, đây là nhóm nhỏ hơn nhưng có đóng góp sâu rộng và lâu dài cho nền khoa học nước nhà, gồm các nhà khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh.
Trong đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) là đại diện duy nhất của lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, lĩnh vực gắn trực tiếp với kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ của đất nước.
Năm 2026 là năm thứ tám liên tiếp ông có tên trong bảng xếp hạng. Trong lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ (Engineering), ông đứng thứ 177 trong gần 158.000 nhà khoa học toàn thế giới, thuộc nhóm 0,11% dẫn đầu trong danh sách xếp hạng thành tựu trọn đời. Toàn bộ sự nghiệp khoa học của ông gắn với Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các công trình về vật liệu và kết cấu tiên tiến, vật liệu composite và vật liệu chức năng của ông được ứng dụng và sáng chế tại Việt Nam cùng nhiều thế hệ học trò trong nước, nhiều người nay đã là giáo sư, phó giáo sư và nhà nghiên cứu xuất sắc ở các đại học trong và ngoài nước.
Phân bố theo cơ sở nghiên cứu
121 nhà khoa học có địa chỉ Việt Nam trong danh sách thành tựu trọn đời đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Dẫn đầu về số lượng là Trường Đại học VinUni với 16 nhà khoa học.
Tiếp theo là Trường Đại học Tôn Đức Thắng (14), Trường Đại học Duy Tân (13), Đại học Quốc gia Hà Nội (7), Đại học Bách khoa Hà Nội (6), Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (5), Trường Đại học Phenikaa (5), Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam (4), Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (4), Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (3), Trường Đại học Văn Lang (3) và Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (3).
Các cơ sở còn lại có từ một đến hai nhà khoa học. Trong nhóm các đại học quốc gia và đại học vùng, Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở có số nhà khoa học được xếp hạng nhiều nhất.
Những kết quả này càng đáng ghi nhận khi các nhà khoa học trong nước vẫn làm việc trong điều kiện còn nhiều hạn chế, trong đó có chi phí công bố và truy cập mở mà đồng nghiệp ở các đại học nước ngoài thường được cơ sở chi trả.
Những năm gần đây, chủ trương khuyến khích hợp tác quốc tế của Nhà nước cùng sự chủ động của các đại học, cả công lập lẫn tư thục như VinUni (Đại học duy nhất ở Việt Nam trả phí cho các nhà xuất bản để các công bố có tên trường đều được truy cập miễn phí - open access), đã giúp các công trình thực hiện tại Việt Nam được tiếp cận và chia sẻ rộng rãi hơn với cộng đồng khoa học thế giới.
Kết quả năm 2026 một lần nữa khẳng định vị thế ngày càng rõ nét của các nhà khoa học Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới, từ y học, năng lượng, kinh tế, trí tuệ nhân tạo đến kỹ thuật công nghệ.
Việc một nhà khoa học xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước vươn lên nhóm 0,11% dẫn đầu thế giới của ngành là minh chứng sinh động cho năng lực nội sinh và sức vươn mạnh mẽ của giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
Nguồn: Ioannidis J.P.A. (2026), “Updated science-wide author databases of standardized citation indicators”, phiên bản 9, Elsevier Data Repository, https://elsevier.digitalcommonsdata.com/datasets/btchxktzyw/9
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: VNU.
Bảng xếp hạng này thường được gọi là danh sách “Top 2% nhà khoa học thế giới”.
Ở danh sách thành tựu trọn đời, Việt Nam có 121 nhà khoa học đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Trường Đại học VinUni dẫn đầu về số lượng, còn Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở duy nhất có hai nhà khoa học trong top 10.
Bảng xếp hạng do nhóm của GS John Ioannidis (Đại học Stanford) xây dựng từ cơ sở dữ liệu Scopus trên hơn 7 triệu nhà khoa học toàn thế giới. Thứ hạng căn cứ vào chỉ số ảnh hưởng tổng hợp c-score, gồm sáu thành phần là tổng số trích dẫn (không tính tự trích dẫn); chỉ số h; chỉ số hm; số trích dẫn của các bài là tác giả duy nhất, tác giả đầu và tác giả cuối.
Nhờ vậy, chỉ số này đề cao vai trò dẫn dắt thực chất của nhà khoa học trong công trình, thay vì số lượng công bố hay số lần đứng tên đồng tác giả. Các nhà khoa học được phân vào 20 lĩnh vực và 174 ngành hẹp, và chỉ những người thuộc nhóm 2% dẫn đầu của ngành hoặc 100.000 người có c-score cao nhất mới có tên trong danh sách. Đây được xem là một trong những bảng xếp hạng cá nhân uy tín và khách quan nhất hiện nay.
Danh sách quan trọng nhất của bảng xếp hạng là danh sách thành tựu trọn đời, tính toàn bộ ảnh hưởng khoa học tích luỹ trong suốt sự nghiệp.
Top 10 nhà khoa học có địa chỉ Việt Nam xếp hạng cao nhất theo thành tựu trọn đời:
Dưới đây là 10 nhà khoa học tại Việt Nam có thứ hạng cao nhất ở danh sách này:
Hạng VN
Nhà khoa học
Cơ quan
Lĩnh vực
Hạng TG
1
GS David R. Bangsberg
Trường Đại học VinUni
Y sinh học
8.926
2
PGS.TS Hoàng Anh Tuấn
Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh
Năng lượng
11.632
3
GS J. Kevin Baird
Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam
Y học nhiệt đới
13.083
4
GS Đỗ Ngọc Minh
Trường Đại học VinUni
Trí tuệ nhân tạo
19.173
5
GS Choi Seung Bok
Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh
Vật liệu
20.647
6
GS.TS Trần Xuân Bách
Đại học Quốc gia Hà Nội
Y tế công cộng
22.065
7
GS Phan Thiện Nhân
Trường Đại học Cửu Long
Hoá học polymer
22.373
8
GS.TS Võ Xuân Vinh
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Tài chính
24.187
9
GS Nguyễn Minh Thọ
Trường Đại học VinUni
Vật lý hoá học
24.197
10
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức
Đại học Quốc gia Hà Nội
Kỹ thuật Công nghệ
27.065
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) là đại diện duy nhất của lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, lĩnh vực gắn trực tiếp với kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ của đất nước.
Bảng xếp hạng này (đã loại đi các tự trích dẫn) phản ánh rõ hai dòng chảy đang song hành của khoa học Việt Nam. Dòng thứ nhất là các nhà khoa học quốc tế và các giáo sư gốc Việt từ những đại học lớn của thế giới đến làm việc tại Việt Nam.
Nhờ chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài của Nhà nước cùng sự chủ động của các cơ sở giáo dục đại học, ngày càng nhiều giáo sư và nhà khoa học từ Hoa Kỳ, Bỉ, Úc, Pháp và nhiều quốc gia khác đã chọn Việt Nam làm nơi nghiên cứu và giảng dạy. Trong đó các đại học tư thục có nhiều thu hút nhất.
Trường Đại học VinUni là ví dụ tiêu biểu, chỉ sau vài năm thành lập đã quy tụ được đội ngũ giáo sư quốc tế có uy tín và trở thành cơ sở có nhiều nhà khoa học được xếp hạng nhất cả nước.
Dòng thứ hai là các nhà khoa học Việt Nam xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước và bền bỉ vươn lên tầm thế giới bằng chính các công trình thực hiện tại Việt Nam, cùng học trò Việt Nam.
Trong top 10 thế giới, đây là nhóm nhỏ hơn nhưng có đóng góp sâu rộng và lâu dài cho nền khoa học nước nhà, gồm các nhà khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Giao thông vận tải TP. Hồ Chí Minh.
Trong đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Đại học Quốc gia Hà Nội) là đại diện duy nhất của lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ, lĩnh vực gắn trực tiếp với kỹ thuật, công nghiệp, hạ tầng và công nghệ của đất nước.
Năm 2026 là năm thứ tám liên tiếp ông có tên trong bảng xếp hạng. Trong lĩnh vực Kỹ thuật Công nghệ (Engineering), ông đứng thứ 177 trong gần 158.000 nhà khoa học toàn thế giới, thuộc nhóm 0,11% dẫn đầu trong danh sách xếp hạng thành tựu trọn đời. Toàn bộ sự nghiệp khoa học của ông gắn với Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các công trình về vật liệu và kết cấu tiên tiến, vật liệu composite và vật liệu chức năng của ông được ứng dụng và sáng chế tại Việt Nam cùng nhiều thế hệ học trò trong nước, nhiều người nay đã là giáo sư, phó giáo sư và nhà nghiên cứu xuất sắc ở các đại học trong và ngoài nước.
Phân bố theo cơ sở nghiên cứu
121 nhà khoa học có địa chỉ Việt Nam trong danh sách thành tựu trọn đời đến từ 44 cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Dẫn đầu về số lượng là Trường Đại học VinUni với 16 nhà khoa học.
Tiếp theo là Trường Đại học Tôn Đức Thắng (14), Trường Đại học Duy Tân (13), Đại học Quốc gia Hà Nội (7), Đại học Bách khoa Hà Nội (6), Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (5), Trường Đại học Phenikaa (5), Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam (4), Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (4), Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (3), Trường Đại học Văn Lang (3) và Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh (3).
Các cơ sở còn lại có từ một đến hai nhà khoa học. Trong nhóm các đại học quốc gia và đại học vùng, Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở có số nhà khoa học được xếp hạng nhiều nhất.
Những kết quả này càng đáng ghi nhận khi các nhà khoa học trong nước vẫn làm việc trong điều kiện còn nhiều hạn chế, trong đó có chi phí công bố và truy cập mở mà đồng nghiệp ở các đại học nước ngoài thường được cơ sở chi trả.
Những năm gần đây, chủ trương khuyến khích hợp tác quốc tế của Nhà nước cùng sự chủ động của các đại học, cả công lập lẫn tư thục như VinUni (Đại học duy nhất ở Việt Nam trả phí cho các nhà xuất bản để các công bố có tên trường đều được truy cập miễn phí - open access), đã giúp các công trình thực hiện tại Việt Nam được tiếp cận và chia sẻ rộng rãi hơn với cộng đồng khoa học thế giới.
Kết quả năm 2026 một lần nữa khẳng định vị thế ngày càng rõ nét của các nhà khoa học Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới, từ y học, năng lượng, kinh tế, trí tuệ nhân tạo đến kỹ thuật công nghệ.
Việc một nhà khoa học xây dựng toàn bộ sự nghiệp ở trong nước vươn lên nhóm 0,11% dẫn đầu thế giới của ngành là minh chứng sinh động cho năng lực nội sinh và sức vươn mạnh mẽ của giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
Nguồn: Ioannidis J.P.A. (2026), “Updated science-wide author databases of standardized citation indicators”, phiên bản 9, Elsevier Data Repository, https://elsevier.digitalcommonsdata.com/datasets/btchxktzyw/9
Khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh
GD&TĐ - Thực tế cho thấy, khi thầy cô đổi mới phương pháp dạy học sẽ góp phần khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh.
2026-10-11 07:24
4 phòng thí nghiệm AI của Việt Nam và Hàn Quốc hợp tác nghiên cứu liên ngành
GD&TĐ - 4 phòng lab về AI sẽ cùng thúc đẩy nghiên cứu liên ngành, phối hợp chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, cử và tiếp nhận sinh viên thực tập.
2026-10-11 07:24
41 sinh viên Đà Nẵng vượt khó nhận bằng Tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Đà Nẵng trao bằng tốt nghiệp cho 41 sinh viên Công nghệ thông tin khóa 2023–2026 thuộc chương trình hợp tác với Tổ chức PNV.
2026-10-11 07:23
Giáo dục năng lượng sạch: Gắn kiến thức với thực tiễn
GD&TĐ - Giáo dục năng lượng sạch, năng lượng tái tạo cần vượt ra ngoài việc cung cấp kiến thức, hướng tới hình thành thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm.
2026-10-11 07:23
ĐH Kinh tế Quốc dân trao bằng thạc sĩ cho hơn 900 học viên
GD&TĐ - Tấm bằng thạc sĩ là minh chứng cho nghị lực và sự kiên trì, đồng thời cũng mở ra hành trình mới đầy cơ hội và thách thức.
2026-10-11 07:22
Điện Biên tập huấn nâng cao năng lực số cho giáo viên
GD&TĐ - Ngày 10/10, Sở GD&ĐT tỉnh Điện Biên tổ chức tập huấn Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao năng lực số cho công chức, viên chức.
2026-10-11 07:22
Tập đoàn Giáo dục Quốc tế Nam Việt với hành trình 20 năm phát triển
GD&TĐ - Ngày 10/10, Tập đoàn Giáo dục Quốc tế Nam Việt tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 và kỷ niệm 20 năm hình thành và phát triển.
2026-10-11 07:22
Hơn 9000 cử nhân Sư phạm Địa lí được đào tạo từ Trường ĐH Sư phạm Hà Nội
GD&TĐ - 70 năm xây dựng và phát triển, Khoa Địa lí, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội đào tạo hơn 9.000 cử nhân Sư phạm chính quy, gần 1.500 ThS và 190 TS Địa lí.
2026-10-11 07:21
Học viện Nông nghiệp Việt Nam đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất
GD&TĐ - Ngày 10/10, Học viện Nông nghiệp Việt Nam tổ chức kỷ niệm 70 năm thành lập (12/10/1956 - 12/10/2026), đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất.
2026-10-11 07:21
Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi số trong trường học
GD&TĐ - Các trường học ở Gia Lai từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số, AI vào dạy học, tạo môi trường học tập chủ động.