Xã hội hóa giúp tăng nguồn lực cho công tác xóa mù chữ
2025/10/16 10:41
GD&TĐ - Huy động nguồn lực xã hội và hợp tác công – tư là chìa khóa bổ sung tài chính, giúp lớp học xóa mù chữ duy trì bền vững ở vùng khó khăn.
Nguồn lực chưa đủ bền vững
Trong nhiều năm qua, công tác xóa mù chữ (XMC) luôn được xem là nhiệm vụ nền tảng trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (CTMTQG DTTS&MN). Tuy nhiên, đi cùng với những thành quả đáng ghi nhận, khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở tính ổn định của nguồn lực tài chính.
Giai đoạn 2021–2025, tổng vốn kế hoạch cho Dự án 5.1 (bao gồm cả XMC) lên tới 8.074,638 tỷ đồng phân bổ cho 42 địa phương. Con số tưởng như rất lớn, nhưng nguồn lực dành riêng cho XMC lại còn hạn chế. Phần lớn kinh phí phải “chia sẻ” cho nhiều hạng mục khác như xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp, khiến khoản vốn sự nghiệp 1.781,592 tỷ đồng bị phân bổ dàn trải. Kết quả là nhiều địa phương gặp khó trong việc mở lớp, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng đào tạo.
Vấn đề càng trở nên rõ rệt khi địa phương phụ thuộc quá nhiều vào nguồn ngân sách Trung ương, thiếu chủ động trong huy động lực lượng tại chỗ. Nhiều lớp học bị gián đoạn hoặc không thể duy trì lâu dài vì thiếu chi phí tối thiểu cho người học. Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất không phải là thiếu lớp, mà là giữ chân người học và người dạy. Với đồng bào vùng khó, đi học đồng nghĩa với mất thu nhập trong khi cuộc sống vốn đã chật vật. Phụ nữ trung niên, lao động chính trong gia đình thường ngại đến lớp vì gánh nặng kinh tế, dẫn đến tỷ lệ chuyên cần thấp.
Để giải quyết, ngoài phần hỗ trợ từ ngân sách như sách giáo khoa, văn phòng phẩm, rất cần những cơ chế khuyến khích thiết thực giúp người học yên tâm cắp sách. Đây chính là lúc giải pháp xã hội hóa và hợp tác công – tư được đặt ra như một đột phá. Giai đoạn 2026–2030, Bộ GD&ĐT chủ trương đẩy mạnh bộ giải pháp đa chiều, trong đó coi chính sách hỗ trợ trực tiếp người học là đòn bẩy để tháo gỡ rào cản kinh tế – xã hội.
Mục tiêu là huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách nhằm giải quyết chi phí đi lại, ăn uống, vật dụng học tập và hỗ trợ sinh hoạt cho học viên. Khi rào cản tài chính được gỡ bỏ, người dân có thể yên tâm đến lớp, đảm bảo duy trì sĩ số và chất lượng. Thực tế, một số địa phương đã thí điểm hỗ trợ gạo, nhu yếu phẩm hoặc chi phí đi lại cho học viên. Những hình thức đơn giản này đã chứng minh hiệu quả trong việc giữ chân người học, tạo sự lan tỏa tích cực trong cộng đồng.
Sự kết hợp giữa vốn Nhà nước và nguồn xã hội hóa vì thế được xem là giải pháp cộng hưởng, giúp chương trình tránh tình trạng “lớp mở rồi lại đóng” và tăng tính bền vững. Khi tài chính không còn là rào cản, công tác XMC sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu xóa dứt điểm mù chữ và chống tái mù một cách căn cơ.
Hoạt động ngoại khóa tại Trường PTDTBT Tiểu học Cao Sơn (Lào Cai).
Phát huy vai trò cộng đồng
Xã hội hóa cho XMC không chỉ dừng ở việc bổ sung tài chính, mà còn thể hiện sức mạnh của cộng đồng khi nhiều lực lượng cùng tham gia. Bộ GD&ĐT đã mở rộng khái niệm “người làm công tác XMC”, huy động cả những cá nhân và tổ chức có uy tín, hình thành nên một “biệt đội xã hội hóa” đặc thù.
Trong đội ngũ ấy có già làng, trưởng bản, những người có tiếng nói quan trọng trong việc vận động bà con đến lớp. Có bộ đội biên phòng trực tiếp đứng lớp, mang kiến thức đến tận các bản vùng sâu, vùng xa. Có trụ trì, sư thầy, chức sắc tôn giáo dùng con đường tâm linh để lan tỏa thông điệp học chữ. Và đặc biệt là sự tham gia của các tổ chức xã hội, cá nhân, doanh nghiệp, nhà hảo tâm, những người góp phần bổ sung nguồn lực vật chất và tinh thần ngoài ngân sách.
Việc huy động lực lượng đa dạng không chỉ giải quyết bài toán thiếu giáo viên, mà còn giúp công tác vận động học viên trở nên gần gũi, hiệu quả. Khi lời kêu gọi đến từ những nhân vật có uy tín, sức lan tỏa sẽ mạnh mẽ hơn, biến XMC từ một nhiệm vụ quản lý nhà nước thành một phong trào xã hội rộng khắp.
Tuy nhiên, để nguồn vốn cộng đồng và nguồn lực xã hội hóa phát huy tối đa hiệu quả, cần có cơ chế thể chế hóa rõ ràng. Các địa phương phải chủ động đa dạng hóa nguồn lực, không chỉ trông chờ vào NSTW mà còn khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, quỹ cộng đồng. Nguồn lực xã hội hóa cần tập trung trực tiếp cho người học từ sách vở, văn phòng phẩm, chi phí đi lại, cho tới hỗ trợ dinh dưỡng… thay vì dàn trải vào các hạng mục thứ cấp.
Cùng với đó, hệ thống giám sát, báo cáo cần được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên để bảo đảm tính minh bạch. Song hành, truyền thông phải được tăng cường, mỗi câu chuyện thành công, mỗi tấm gương vượt khó học chữ cần được lan tỏa để cộng đồng thấy rõ giá trị và tiếp tục chung tay.
Có thể nói, bốn trụ cột “tài liệu – chính sách hỗ trợ – nhân lực – truyền thông” sẽ là nền móng bảo đảm tính bền vững cho XMC giai đoạn 2026–2030. Khi Nhà nước và xã hội cùng bắt tay, từ nguồn lực đến hành động, xóa mù chữ sẽ không còn là trách nhiệm riêng của ngành giáo dục, mà trở thành sự nghiệp chung của toàn cộng đồng. Đó chính là sức mạnh để đưa tri thức đến từng thôn bản, từng mái nhà, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Xã Sủng Máng, tỉnh Tuyên Quang mở lớp xóa mù chữ cho hội viên phụ nữ xã.
Nguồn lực chưa đủ bền vững
Trong nhiều năm qua, công tác xóa mù chữ (XMC) luôn được xem là nhiệm vụ nền tảng trong Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (CTMTQG DTTS&MN). Tuy nhiên, đi cùng với những thành quả đáng ghi nhận, khó khăn lớn nhất vẫn nằm ở tính ổn định của nguồn lực tài chính.
Giai đoạn 2021–2025, tổng vốn kế hoạch cho Dự án 5.1 (bao gồm cả XMC) lên tới 8.074,638 tỷ đồng phân bổ cho 42 địa phương. Con số tưởng như rất lớn, nhưng nguồn lực dành riêng cho XMC lại còn hạn chế. Phần lớn kinh phí phải “chia sẻ” cho nhiều hạng mục khác như xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp, khiến khoản vốn sự nghiệp 1.781,592 tỷ đồng bị phân bổ dàn trải. Kết quả là nhiều địa phương gặp khó trong việc mở lớp, duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng đào tạo.
Vấn đề càng trở nên rõ rệt khi địa phương phụ thuộc quá nhiều vào nguồn ngân sách Trung ương, thiếu chủ động trong huy động lực lượng tại chỗ. Nhiều lớp học bị gián đoạn hoặc không thể duy trì lâu dài vì thiếu chi phí tối thiểu cho người học. Thực tế cho thấy, rào cản lớn nhất không phải là thiếu lớp, mà là giữ chân người học và người dạy. Với đồng bào vùng khó, đi học đồng nghĩa với mất thu nhập trong khi cuộc sống vốn đã chật vật. Phụ nữ trung niên, lao động chính trong gia đình thường ngại đến lớp vì gánh nặng kinh tế, dẫn đến tỷ lệ chuyên cần thấp.
Để giải quyết, ngoài phần hỗ trợ từ ngân sách như sách giáo khoa, văn phòng phẩm, rất cần những cơ chế khuyến khích thiết thực giúp người học yên tâm cắp sách. Đây chính là lúc giải pháp xã hội hóa và hợp tác công – tư được đặt ra như một đột phá. Giai đoạn 2026–2030, Bộ GD&ĐT chủ trương đẩy mạnh bộ giải pháp đa chiều, trong đó coi chính sách hỗ trợ trực tiếp người học là đòn bẩy để tháo gỡ rào cản kinh tế – xã hội.
Mục tiêu là huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách nhằm giải quyết chi phí đi lại, ăn uống, vật dụng học tập và hỗ trợ sinh hoạt cho học viên. Khi rào cản tài chính được gỡ bỏ, người dân có thể yên tâm đến lớp, đảm bảo duy trì sĩ số và chất lượng. Thực tế, một số địa phương đã thí điểm hỗ trợ gạo, nhu yếu phẩm hoặc chi phí đi lại cho học viên. Những hình thức đơn giản này đã chứng minh hiệu quả trong việc giữ chân người học, tạo sự lan tỏa tích cực trong cộng đồng.
Sự kết hợp giữa vốn Nhà nước và nguồn xã hội hóa vì thế được xem là giải pháp cộng hưởng, giúp chương trình tránh tình trạng “lớp mở rồi lại đóng” và tăng tính bền vững. Khi tài chính không còn là rào cản, công tác XMC sẽ tiến gần hơn tới mục tiêu xóa dứt điểm mù chữ và chống tái mù một cách căn cơ.
Hoạt động ngoại khóa tại Trường PTDTBT Tiểu học Cao Sơn (Lào Cai).
Phát huy vai trò cộng đồng
Xã hội hóa cho XMC không chỉ dừng ở việc bổ sung tài chính, mà còn thể hiện sức mạnh của cộng đồng khi nhiều lực lượng cùng tham gia. Bộ GD&ĐT đã mở rộng khái niệm “người làm công tác XMC”, huy động cả những cá nhân và tổ chức có uy tín, hình thành nên một “biệt đội xã hội hóa” đặc thù.
Trong đội ngũ ấy có già làng, trưởng bản, những người có tiếng nói quan trọng trong việc vận động bà con đến lớp. Có bộ đội biên phòng trực tiếp đứng lớp, mang kiến thức đến tận các bản vùng sâu, vùng xa. Có trụ trì, sư thầy, chức sắc tôn giáo dùng con đường tâm linh để lan tỏa thông điệp học chữ. Và đặc biệt là sự tham gia của các tổ chức xã hội, cá nhân, doanh nghiệp, nhà hảo tâm, những người góp phần bổ sung nguồn lực vật chất và tinh thần ngoài ngân sách.
Việc huy động lực lượng đa dạng không chỉ giải quyết bài toán thiếu giáo viên, mà còn giúp công tác vận động học viên trở nên gần gũi, hiệu quả. Khi lời kêu gọi đến từ những nhân vật có uy tín, sức lan tỏa sẽ mạnh mẽ hơn, biến XMC từ một nhiệm vụ quản lý nhà nước thành một phong trào xã hội rộng khắp.
Tuy nhiên, để nguồn vốn cộng đồng và nguồn lực xã hội hóa phát huy tối đa hiệu quả, cần có cơ chế thể chế hóa rõ ràng. Các địa phương phải chủ động đa dạng hóa nguồn lực, không chỉ trông chờ vào NSTW mà còn khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ, quỹ cộng đồng. Nguồn lực xã hội hóa cần tập trung trực tiếp cho người học từ sách vở, văn phòng phẩm, chi phí đi lại, cho tới hỗ trợ dinh dưỡng… thay vì dàn trải vào các hạng mục thứ cấp.
Cùng với đó, hệ thống giám sát, báo cáo cần được chuẩn hóa và cập nhật thường xuyên để bảo đảm tính minh bạch. Song hành, truyền thông phải được tăng cường, mỗi câu chuyện thành công, mỗi tấm gương vượt khó học chữ cần được lan tỏa để cộng đồng thấy rõ giá trị và tiếp tục chung tay.
Có thể nói, bốn trụ cột “tài liệu – chính sách hỗ trợ – nhân lực – truyền thông” sẽ là nền móng bảo đảm tính bền vững cho XMC giai đoạn 2026–2030. Khi Nhà nước và xã hội cùng bắt tay, từ nguồn lực đến hành động, xóa mù chữ sẽ không còn là trách nhiệm riêng của ngành giáo dục, mà trở thành sự nghiệp chung của toàn cộng đồng. Đó chính là sức mạnh để đưa tri thức đến từng thôn bản, từng mái nhà, góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài ở vùng đồng bào DTTS&MN.
Tiêu chí xếp hạng đại học không mâu thuẫn với mục tiêu giáo dục
GD&TĐ - Tiêu chí xếp hạng là công cụ đo lường, cải tiến chất lượng, hiện thực hóa mục tiêu giáo dục và nâng cao giá trị phục vụ người học, xã hội.
2026-07-18 01:15
Quảng Trị đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích đầu tư trường tư thục
GD&TĐ - Nhằm giải quyết áp lực tuyển sinh bậc THCS và THPT, Quảng Trị đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích phát triển các trường ngoài công lập.
2026-07-18 01:15
Môi trường đào tạo quốc tế ngay tại Thái Nguyên
GD&TĐ - Khoa Quốc tế (Đại học Thái Nguyên) đã và đang tạo dựng môi trường đào tạo theo chuẩn quốc tế, giúp sinh viên phát triển năng lực toàn diện.
2026-07-18 01:13
Gỡ vướng chính sách, bảo đảm quyền lợi cho giáo viên và học sinh Quảng Trị
GD&TĐ - Tại kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh Quảng Trị, lãnh đạo Sở GD&ĐT giải đáp các nội dung liên quan đến chế độ chính sách đối với giáo viên, học sinh.
2026-07-18 01:12
Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa: Điểm nghẽn lớn nhất của giáo dục là thiếu giáo viên
GD&TĐ - Thiếu gần 9.000 giáo viên, hơn 5.000 phòng học và quy mô học sinh tăng nhanh đang tạo áp lực lớn đối với ngành Giáo dục Thanh Hóa.
2026-07-18 01:11
Muốn tăng trưởng hai con số phải đầu tư cho giáo dục
GD&TĐ - Hưng Yên cần phát huy lợi thế Khu đại học Phố Hiến, có chính sách đột phá cho giáo dục và đẩy mạnh sắp xếp trường lớp.
2026-07-18 01:10
Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động
GD&TĐ - Theo các chuyên gia, cần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động nhằm thúc đẩy công nhận kỹ năng hướng tới dịch chuyển lao động.
2026-07-18 01:09
Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thành tổ hợp chiến lược về tri thức
GD&TĐ - Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thành tổ hợp chiến lược về tri thức, công nghệ đổi mới sáng tạo là đề án trọng tâm, giữ vai trò định hướng tổng thể.
2026-07-18 01:08
Phát huy vai trò nòng cốt trong đào tạo ngoại ngữ và hội nhập quốc tế
GD&TĐ - Trường Ngoại ngữ (Đại học Thái Nguyên) đạt nhiều kết quả nổi bật trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.
2026-07-18 01:08
Nhà giáo giữ bình yên nơi cực Tây Tổ quốc
GD&TĐ - Ở Mường Nhé, ông Phạm Văn Khiêm không chỉ được biết đến là người gieo chữ mà còn là điểm tựa giúp dân bản tìm lại con đường sáng.