Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Phát triển năng lực số từ nhiệm vụ học tập

2026/09/25 09:27

GD&TĐ - Việc kết hợp Ngữ văn với Tin học giúp học sinh THCS ở Đắk Lắk học cách tìm thông tin, đọc sâu và diễn đạt điều mình hiểu bằng công cụ số.


Một chủ đề, nhiều cách tiếp cận
Điều gì xảy ra khi học sinh vừa đọc một văn bản giải thích hiện tượng sao băng, vừa cảm nhận mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính? Tại Trường Tiểu học và THCS Phan Chu Trinh, phường Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), câu hỏi ấy trở thành điểm khởi đầu cho hoạt động kết nối Ngữ văn với Tin học.
Hoạt động được triển khai ở lớp 8E (năm học 2025-2026) với 43 học sinh và lớp 9G (năm học 2026-2027) với 38 học sinh. Trong bài 2 “Những bí ẩn của thế giới tự nhiên” thuộc chương trình Ngữ văn 8, học sinh lớp 8E tìm hiểu văn bản “Sao băng là gì và những điều bạn cần biết về sao băng?”, sau đó đọc kết nối với bài thơ “Mưa xuân II” của Nguyễn Bính.
Học sinh sử dụng công cụ số để tìm hiểu, xử lí và hoàn thiện thông tin ngoài lớp học. (Ảnh: NT)

Hai văn bản cùng hướng đến thiên nhiên nhưng sử dụng những cách biểu đạt khác nhau. Văn bản về sao băng cung cấp dữ kiện, giải thích hiện tượng theo trình tự và quan hệ nguyên nhân, kết quả. Bài thơ đưa người đọc đến với mưa xuân qua hình ảnh, nhịp điệu và cảm xúc. Đặt cạnh nhau, chúng giúp học sinh nhận ra: muốn hiểu một văn bản, trước hết phải chú ý đến mục đích viết và cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.
Từ câu chuyện sao băng, nhu cầu tìm hiểu thêm của học sinh mở ra một nhiệm vụ phù hợp để vận dụng Tin học. Các em lựa chọn từ khóa, tìm tư liệu, đối chiếu thông tin rồi quyết định dữ kiện nào cần đưa vào phần trình bày. Tìm được nhiều kết quả trên mạng chưa phải là hoàn thành nhiệm vụ. Học sinh còn phải tự hỏi: thông tin đến từ đâu? Có liên quan đến câu hỏi đang tìm hiểu không? Mình đã hiểu đủ để giải thích lại bằng lời chưa?
Ở điểm giao này, Tin học hỗ trợ việc tìm kiếm, xử lý và trình bày; Ngữ văn giúp học sinh đọc hiểu, xác định ý chính và diễn đạt. Mỗi môn đóng góp một phần rõ ràng vào cùng nhiệm vụ học tập.
Muốn có sản phẩm số tốt, phải đọc kỹ
Một văn bản thông tin thường chứa nhiều dữ kiện. Nếu đưa tất cả lên màn hình, học sinh dễ tạo ra những trang trình chiếu dày chữ nhưng khó theo dõi. Vì vậy, bước cần làm trước khi thiết kế là sắp xếp lại điều đã đọc: hiện tượng là gì, có đặc điểm nào, diễn ra ra sao và đâu là thông tin người nghe cần biết.
Bảng hoặc sơ đồ có thể giúp học sinh nhìn rõ mối quan hệ giữa các ý. Tuy nhiên, để lập được một sơ đồ đúng, các em phải đọc kỹ văn bản, phân biệt ý chính với chi tiết bổ trợ và kiểm tra cách nối các dữ kiện. Công cụ số lúc này tạo thêm cơ hội để học sinh bộc lộ mức độ hiểu bài.
Khi chuyển nội dung thành sản phẩm số, học sinh tiếp tục phải đưa ra những lựa chọn: đặt tiêu đề thế nào, viết chú thích ra sao, chọn hình ảnh nào thực sự làm rõ nội dung. Một hình ảnh bắt mắt nhưng không liên quan sẽ ít giá trị; nhiều hiệu ứng cũng không thể bù cho phần trình bày thiếu mạch lạc. Để nói ngắn gọn và dễ hiểu, người trình bày cần biết rõ mình muốn nói điều gì.
Với “Mưa xuân II”, công cụ số có thể hỗ trợ hệ thống hóa hình ảnh thơ hoặc trình bày kết quả thảo luận. Nhưng cảm nhận bài thơ vẫn phải bắt đầu từ câu chữ, nhịp điệu và những liên tưởng mà văn bản gợi ra. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh chỉ rõ từ ngữ, hình ảnh làm căn cứ cho cách hiểu của mình. Nhờ vậy, sản phẩm trình bày gắn với hoạt động đọc, thay vì biến tiết Ngữ văn thành cuộc thi thiết kế.
Học sinh trao đổi, phân công nhiệm vụ và hỗ trợ nhau trong hoạt động nhóm. (Ảnh: NT)

Cách tổ chức để giáo viên có thể vận dụng
Từ hoạt động này, giáo viên có thể bắt đầu bằng một câu hỏi học tập đủ rõ, chẳng hạn: văn bản giúp em hiểu gì về hiện tượng tự nhiên? Tác giả đã truyền tải điều đó bằng cách nào? Nếu giới thiệu lại cho bạn bè, em sẽ chọn những thông tin nào?
Tiếp đó, học sinh đọc văn bản và ghi lại ý chính trước khi tìm tư liệu bổ sung. Giáo viên hướng dẫn các em chọn từ khóa, xem xét nguồn thông tin và đối chiếu với nội dung bài học. Khi đã có chất liệu, học sinh sắp xếp ý bằng bảng hoặc sơ đồ, rồi mới chọn hình thức thể hiện phù hợp. Phần cuối là trình bày, trả lời câu hỏi của bạn học và chỉnh sửa sản phẩm.
Trình tự ấy giúp công nghệ phục vụ một mục tiêu học tập cụ thể. Giáo viên Ngữ văn xác định yêu cầu đọc, viết, nói và nghe; giáo viên Tin học hỗ trợ kỹ năng tìm kiếm, xử lý, tổ chức thông tin và sử dụng công cụ. Hai giáo viên không cần dạy thay phần việc của nhau, nhưng cần thống nhất học sinh sẽ làm gì và được đánh giá theo những tiêu chí nào.
Việc nhận xét sản phẩm cũng đi từ nội dung: thông tin có chính xác không, ý có mạch lạc không, học sinh có giải thích được lựa chọn của mình không. Sau đó mới xem cách sử dụng hình ảnh, chữ viết và công cụ số. Một bài trình bày giản dị nhưng cho thấy sự hiểu bài, biết chọn lọc tư liệu và diễn đạt rõ ràng vẫn là kết quả đáng ghi nhận.
Theo lãnh đạo nhà trường, qua quá trình triển khai, hoạt động liên môn ghi nhận chuyển biến tích cực về kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập. Học sinh hiểu sâu hơn nội dung bài, nhận ra mối liên hệ giữa hai môn; biết tìm kiếm, chọn lọc, xử lý và tổ chức thông tin. Các em cũng có thêm cơ hội luyện diễn đạt, thuyết trình, hợp tác và chịu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao.
Đại diện lớp 8E, em Nguyễn Linh Đan chia sẻ: “Qua hoạt động này, em hiểu bài sâu hơn và biết cách tìm kiếm, chọn lọc thông tin để trình bày bằng công cụ số. Em cũng tự tin hơn khi trao đổi và làm việc cùng các bạn”.
Em Võ Ngọc Tuệ Lâm, đại diện lớp 9G cũng nói: “Em thích cách học này vì được vận dụng kiến thức của nhiều môn vào cùng một nhiệm vụ. Em biết cách xử lí thông tin, làm sản phẩm số và chủ động hơn khi trình bày ý tưởng của mình”.
Từ một bài đọc về sao băng và một bài thơ về mưa xuân, học sinh có cơ hội thực hành một năng lực cần thiết trong đời sống số: tìm được thông tin, hiểu điều đã tìm và truyền đạt lại một cách có trách nhiệm. Với giáo viên, đó cũng là điểm khởi đầu thiết thực của dạy học liên môn: chọn đúng nhiệm vụ, giữ vững mục tiêu từng môn và để học sinh tự tạo ra sản phẩm từ điều các em thực sự hiểu.
Theo ông Võ Ngọc Nam, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Phan Chu Trinh, khi thực hiện một nhiệm vụ chung của Ngữ văn và Tin học, giáo viên có sự đầu tư về giáo án, kỹ thuật và phương pháp dạy học dựa trên thiết bị máy móc hiện có và số học sinh có máy tính để dự báo các tình huống.
Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh chuẩn bị tư liệu theo yêu cầu của bài học, thông qua quy trình: tìm kiếm, kiểm chứng, chọn lọc thông tin, tạo sản phẩm số và trình bày điều mình hiểu.
Nhà trường luôn khuyến khích giáo viên thiết kế những hoạt động như vậy để năng lực số được hình thành qua việc học, đồng thời bảo đảm học sinh có điều kiện thiết bị khác nhau đều được tham gia.

Một giờ học tại lớp 8E, Trường Tiểu học và THCS Phan Chu Trinh, phường Buôn Ma Thuột. (Ảnh: NT)

Một chủ đề, nhiều cách tiếp cận
Điều gì xảy ra khi học sinh vừa đọc một văn bản giải thích hiện tượng sao băng, vừa cảm nhận mưa xuân trong thơ Nguyễn Bính? Tại Trường Tiểu học và THCS Phan Chu Trinh, phường Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), câu hỏi ấy trở thành điểm khởi đầu cho hoạt động kết nối Ngữ văn với Tin học.
Hoạt động được triển khai ở lớp 8E (năm học 2025-2026) với 43 học sinh và lớp 9G (năm học 2026-2027) với 38 học sinh. Trong bài 2 “Những bí ẩn của thế giới tự nhiên” thuộc chương trình Ngữ văn 8, học sinh lớp 8E tìm hiểu văn bản “Sao băng là gì và những điều bạn cần biết về sao băng?”, sau đó đọc kết nối với bài thơ “Mưa xuân II” của Nguyễn Bính.
Học sinh sử dụng công cụ số để tìm hiểu, xử lí và hoàn thiện thông tin ngoài lớp học. (Ảnh: NT)

Hai văn bản cùng hướng đến thiên nhiên nhưng sử dụng những cách biểu đạt khác nhau. Văn bản về sao băng cung cấp dữ kiện, giải thích hiện tượng theo trình tự và quan hệ nguyên nhân, kết quả. Bài thơ đưa người đọc đến với mưa xuân qua hình ảnh, nhịp điệu và cảm xúc. Đặt cạnh nhau, chúng giúp học sinh nhận ra: muốn hiểu một văn bản, trước hết phải chú ý đến mục đích viết và cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.
Từ câu chuyện sao băng, nhu cầu tìm hiểu thêm của học sinh mở ra một nhiệm vụ phù hợp để vận dụng Tin học. Các em lựa chọn từ khóa, tìm tư liệu, đối chiếu thông tin rồi quyết định dữ kiện nào cần đưa vào phần trình bày. Tìm được nhiều kết quả trên mạng chưa phải là hoàn thành nhiệm vụ. Học sinh còn phải tự hỏi: thông tin đến từ đâu? Có liên quan đến câu hỏi đang tìm hiểu không? Mình đã hiểu đủ để giải thích lại bằng lời chưa?
Ở điểm giao này, Tin học hỗ trợ việc tìm kiếm, xử lý và trình bày; Ngữ văn giúp học sinh đọc hiểu, xác định ý chính và diễn đạt. Mỗi môn đóng góp một phần rõ ràng vào cùng nhiệm vụ học tập.
Muốn có sản phẩm số tốt, phải đọc kỹ
Một văn bản thông tin thường chứa nhiều dữ kiện. Nếu đưa tất cả lên màn hình, học sinh dễ tạo ra những trang trình chiếu dày chữ nhưng khó theo dõi. Vì vậy, bước cần làm trước khi thiết kế là sắp xếp lại điều đã đọc: hiện tượng là gì, có đặc điểm nào, diễn ra ra sao và đâu là thông tin người nghe cần biết.
Bảng hoặc sơ đồ có thể giúp học sinh nhìn rõ mối quan hệ giữa các ý. Tuy nhiên, để lập được một sơ đồ đúng, các em phải đọc kỹ văn bản, phân biệt ý chính với chi tiết bổ trợ và kiểm tra cách nối các dữ kiện. Công cụ số lúc này tạo thêm cơ hội để học sinh bộc lộ mức độ hiểu bài.
Khi chuyển nội dung thành sản phẩm số, học sinh tiếp tục phải đưa ra những lựa chọn: đặt tiêu đề thế nào, viết chú thích ra sao, chọn hình ảnh nào thực sự làm rõ nội dung. Một hình ảnh bắt mắt nhưng không liên quan sẽ ít giá trị; nhiều hiệu ứng cũng không thể bù cho phần trình bày thiếu mạch lạc. Để nói ngắn gọn và dễ hiểu, người trình bày cần biết rõ mình muốn nói điều gì.
Với “Mưa xuân II”, công cụ số có thể hỗ trợ hệ thống hóa hình ảnh thơ hoặc trình bày kết quả thảo luận. Nhưng cảm nhận bài thơ vẫn phải bắt đầu từ câu chữ, nhịp điệu và những liên tưởng mà văn bản gợi ra. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh chỉ rõ từ ngữ, hình ảnh làm căn cứ cho cách hiểu của mình. Nhờ vậy, sản phẩm trình bày gắn với hoạt động đọc, thay vì biến tiết Ngữ văn thành cuộc thi thiết kế.
Học sinh trao đổi, phân công nhiệm vụ và hỗ trợ nhau trong hoạt động nhóm. (Ảnh: NT)

Cách tổ chức để giáo viên có thể vận dụng
Từ hoạt động này, giáo viên có thể bắt đầu bằng một câu hỏi học tập đủ rõ, chẳng hạn: văn bản giúp em hiểu gì về hiện tượng tự nhiên? Tác giả đã truyền tải điều đó bằng cách nào? Nếu giới thiệu lại cho bạn bè, em sẽ chọn những thông tin nào?
Tiếp đó, học sinh đọc văn bản và ghi lại ý chính trước khi tìm tư liệu bổ sung. Giáo viên hướng dẫn các em chọn từ khóa, xem xét nguồn thông tin và đối chiếu với nội dung bài học. Khi đã có chất liệu, học sinh sắp xếp ý bằng bảng hoặc sơ đồ, rồi mới chọn hình thức thể hiện phù hợp. Phần cuối là trình bày, trả lời câu hỏi của bạn học và chỉnh sửa sản phẩm.
Trình tự ấy giúp công nghệ phục vụ một mục tiêu học tập cụ thể. Giáo viên Ngữ văn xác định yêu cầu đọc, viết, nói và nghe; giáo viên Tin học hỗ trợ kỹ năng tìm kiếm, xử lý, tổ chức thông tin và sử dụng công cụ. Hai giáo viên không cần dạy thay phần việc của nhau, nhưng cần thống nhất học sinh sẽ làm gì và được đánh giá theo những tiêu chí nào.
Việc nhận xét sản phẩm cũng đi từ nội dung: thông tin có chính xác không, ý có mạch lạc không, học sinh có giải thích được lựa chọn của mình không. Sau đó mới xem cách sử dụng hình ảnh, chữ viết và công cụ số. Một bài trình bày giản dị nhưng cho thấy sự hiểu bài, biết chọn lọc tư liệu và diễn đạt rõ ràng vẫn là kết quả đáng ghi nhận.
Theo lãnh đạo nhà trường, qua quá trình triển khai, hoạt động liên môn ghi nhận chuyển biến tích cực về kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập. Học sinh hiểu sâu hơn nội dung bài, nhận ra mối liên hệ giữa hai môn; biết tìm kiếm, chọn lọc, xử lý và tổ chức thông tin. Các em cũng có thêm cơ hội luyện diễn đạt, thuyết trình, hợp tác và chịu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao.
Đại diện lớp 8E, em Nguyễn Linh Đan chia sẻ: “Qua hoạt động này, em hiểu bài sâu hơn và biết cách tìm kiếm, chọn lọc thông tin để trình bày bằng công cụ số. Em cũng tự tin hơn khi trao đổi và làm việc cùng các bạn”.
Em Võ Ngọc Tuệ Lâm, đại diện lớp 9G cũng nói: “Em thích cách học này vì được vận dụng kiến thức của nhiều môn vào cùng một nhiệm vụ. Em biết cách xử lí thông tin, làm sản phẩm số và chủ động hơn khi trình bày ý tưởng của mình”.
Từ một bài đọc về sao băng và một bài thơ về mưa xuân, học sinh có cơ hội thực hành một năng lực cần thiết trong đời sống số: tìm được thông tin, hiểu điều đã tìm và truyền đạt lại một cách có trách nhiệm. Với giáo viên, đó cũng là điểm khởi đầu thiết thực của dạy học liên môn: chọn đúng nhiệm vụ, giữ vững mục tiêu từng môn và để học sinh tự tạo ra sản phẩm từ điều các em thực sự hiểu.
Theo ông Võ Ngọc Nam, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Phan Chu Trinh, khi thực hiện một nhiệm vụ chung của Ngữ văn và Tin học, giáo viên có sự đầu tư về giáo án, kỹ thuật và phương pháp dạy học dựa trên thiết bị máy móc hiện có và số học sinh có máy tính để dự báo các tình huống.
Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh chuẩn bị tư liệu theo yêu cầu của bài học, thông qua quy trình: tìm kiếm, kiểm chứng, chọn lọc thông tin, tạo sản phẩm số và trình bày điều mình hiểu.
Nhà trường luôn khuyến khích giáo viên thiết kế những hoạt động như vậy để năng lực số được hình thành qua việc học, đồng thời bảo đảm học sinh có điều kiện thiết bị khác nhau đều được tham gia.

Chia sẻ
tỉnh Đắk Lắktrường THCS Phan Chu Trinhphường Buôn Ma Thuộtdạy học Ngữ văncông nghệ số giáo dục
Theo Xuân Huyền - Oanh Hoàng (Trường THCS Phan Chu Trinh, phường Buôn Ma Thuột)
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/09/24 17:08 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Người thầy ở vùng khó 'giữ lửa' để thích ứng với kỷ nguyên số
Trao đổi - kết nối

Người thầy ở vùng khó 'giữ lửa' để thích ứng với kỷ nguyên số

Chuẩn hóa năng lực AI cho giáo viên, tạo nền tảng đổi mới giáo dục
Trao đổi - kết nối

Chuẩn hóa năng lực AI cho giáo viên, tạo nền tảng đổi mới giáo dục

Chủ động bắt nhịp với sự thay đổi của công nghệ để nâng cao chất lượng dạy nghề
Trao đổi - kết nối

Chủ động bắt nhịp với sự thay đổi của công nghệ để nâng cao chất lượng dạy nghề

Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quản lý giáo dục và đào tạo
Trao đổi - kết nối

Thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quản lý giáo dục và đào tạo

Bước chuyển trong giáo dục tiểu học khi ứng dụng công nghệ số và AI
Trao đổi - kết nối

Bước chuyển trong giáo dục tiểu học khi ứng dụng công nghệ số và AI

Phát triển con người và kỹ năng số để làm chủ công nghệ
Trao đổi - kết nối

Phát triển con người và kỹ năng số để làm chủ công nghệ

Mới nhất

2026-09-25 09:53

Kết nối đặt hàng đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi

GD&TĐ - Ngày 28/9/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức Diễn đàn hợp tác nhà trường - doanh nghiệp năm 2026 với chủ đề “Kết nối đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi”.

Kết nối đặt hàng đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi
2026-09-25 09:52

Kinh nghiệm trường quốc tế trong chuyển đổi số và ứng dụng AI

GD&TĐ - AI chỉ là một trong số rất nhiều công cụ hỗ trợ học tập, mục tiêu trung tâm của giáo dục vẫn là phát triển tư duy phản biện cho học sinh.

Kinh nghiệm trường quốc tế trong chuyển đổi số và ứng dụng AI
2026-09-25 09:51

7 bước truy cập sách giáo khoa điện tử cho học sinh

GD&TĐ - Quý thầy cô và các em học sinh có thể truy cập, tìm kiếm và sử dụng sách giáo khoa điện tử trên trang taphuan.nxbgd.vn của NXBGDVN.

7 bước truy cập sách giáo khoa điện tử cho học sinh
2026-09-25 09:50

Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh làm việc với trường mầm non ở TP Đồng Nai

GD&TĐ - Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Quyên Thanh thăm và làm việc tại trường mầm non ở TP Đồng Nai nhằm lắng nghe, tháo gỡ vướng mắc sau sắp xếp.

Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh làm việc với trường mầm non ở TP Đồng Nai
2026-09-25 09:50

Nhà tập thể giáo viên vùng khó Đắk Lắk nhiều năm... chờ nước sạch

GD&TĐ - Nhiều năm qua, gần 20 giáo viên tại một phân hiệu trường học ở xã Krông Á (Đắk Lắk) phải xin nước nhà dân, hứng nước mưa để phục vụ sinh hoạt.

Nhà tập thể giáo viên vùng khó Đắk Lắk nhiều năm... chờ nước sạch
2026-09-25 09:49

Hành trang số nơi vùng cao xứ Thanh

GD&TĐ - Tại khu vực vùng cao, biên giới, chuyển đổi số mang ý nghĩa mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho học sinh.

Hành trang số nơi vùng cao xứ Thanh
2026-09-25 09:44

Thúc đẩy giáo dục về tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước cho học sinh

GD&TĐ - Trong bối cảnh hiện nay, việc tăng cường hợp tác giáo dục về tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước cho học sinh, sinh viên ngày càng quan trọng.

Thúc đẩy giáo dục về tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước cho học sinh
2026-09-25 09:44

Xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, mỗi học sinh là một công dân số nhỏ

GD&TĐ - Phường Xuân Hòa (TPHCM) từng bước xây dựng hệ sinh thái số từ quản lý nhà nước đến giáo dục cộng đồng, hướng tới phục vụ người dân hiệu quả hơn.

Xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, mỗi học sinh là một công dân số nhỏ
2026-09-25 09:43

Tăng tốc đổi mới giáo dục, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học

GD&TĐ - Việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học đang được ngành Giáo dục TP Huế tiến hành qua những cách làm đổi mới và nhanh chóng.

Tăng tốc đổi mới giáo dục, đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học
2026-09-25 09:40

Tăng cường giáo dục pháp luật, kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh Quảng Trị

GD&TĐ - Các trường THPT tại Quảng Trị tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập trung vào an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội.

Tăng cường giáo dục pháp luật, kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh Quảng Trị