Tư vấn tâm lý học đường chuyển từ 'chữa cháy' sang phòng ngừa, phát hiện sớm
2026/08/17 16:23
GD&TĐ - Tư vấn tâm lý học sinh tiếp tục là một nhiệm vụ được ngành Giáo dục quan tâm trong năm học 2026-2027.
Đâu là giải pháp khả thi để tạo chuyển biến thực chất công tác này trong năm học mới khi các điều kiện triển khai còn hạn chế?
Xây dựng mạng lưới hỗ trợ nhiều tầng
PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, không thể kỳ vọng trong thời gian ngắn mỗi trường đều có ngay một nhà tâm lý chuyên nghiệp. Mục tiêu thực tế hơn là xây dựng mạng lưới hỗ trợ nhiều tầng, sử dụng đúng người cho đúng việc.
Ở tầng thứ nhất, toàn bộ giáo viên chủ nhiệm và một nhóm giáo viên nòng cốt cần được huấn luyện những năng lực tối thiểu như nhận diện thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi, học tập và quan hệ xã hội; biết cách mở một cuộc trò chuyện an toàn, biết điều tuyệt đối không nên nói với học sinh đang khủng hoảng và biết thời điểm phải chuyển tuyến. Đội ngũ này có thể được hướng dẫn, giám sát định kỳ bởi một chuyên gia thuộc các trường đại học.
Tầng thứ hai nên sử dụng nhân sự được đào tạo chuyên sâu theo cụm trường. Với những nơi chưa thể tuyển người chuyên trách, một chuyên gia có thể hỗ trợ một số trường gần nhau, vừa tiếp nhận các ca khó hơn, vừa giám sát chuyên môn cho đội ngũ tuyến đầu.
Tầng thứ ba là mạng lưới bệnh viện, chuyên khoa tâm thần, các nhà tâm lý lâm sàng, công tác xã hội và các dịch vụ bảo vệ trẻ em để tiếp nhận những trường hợp vượt quá khả năng của nhà trường.
Thông tư số 18/2025/TT-BGDĐT hướng dẫn về công tác tư vấn học đường và công tác xã hội trong trường học đã thiết kế cả cơ chế “chuyển gửi” tới trung tâm, đơn vị hoặc chuyên gia bên ngoài. Vấn đề hiện nay là mỗi trường phải biết rõ chuyển cho ai, bằng cách nào và ai theo dõi sau khi chuyển.
Giải pháp thứ hai PGS.TS Trần Thành Nam đưa ra là chuẩn hóa một quy trình phản ứng tối thiểu dưới dạng infographic trực quan thay vì để mỗi giáo viên tự xử lý theo kinh nghiệm.
Ví dụ, khi một học sinh có dấu hiệu tự hại, bị bạo lực hoặc có biểu hiện trầm cảm nặng, người đầu tiên tiếp nhận thông tin phải biết cần hỏi gì, không hỏi gì, báo cho đầu mối nào và trường hợp nào cần trợ giúp y tế khẩn cấp.
Một quy trình ngắn, rõ ràng và được diễn tập thường hiệu quả hơn nhiều so với những đợt tập huấn dài nhưng chung chung.
Thứ ba, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, không thể chờ học sinh tự đến với các dịch vụ tâm lý, mà phải mở nhiều cổng như đặt lịch trực tuyến, hoặc một kênh báo tin bảo mật. Công nghệ và AI cũng có thể sử dụng nhưng chỉ là kênh tiếp cận, không thể thay thế con người.
Một buổi tư vấn tâm lý tại Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức (Hưng Yên).
Chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời
Để chuyển từ việc chỉ hỗ trợ khi học sinh phát sinh vấn đề sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời, bà Tạ Thị Minh Thủy - Hiệu trưởng Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức (Hưng Yên) cho rằng, trước hết cần thay đổi nhận thức về công tác tham vấn tâm lý học đường. Đây cần được xem là một phần của quá trình chăm sóc và giáo dục học sinh, được triển khai thường xuyên trong đời sống nhà trường.
Nếu chỉ chờ đến khi học sinh có biểu hiện rõ rệt hoặc xảy ra sự việc mới can thiệp, nhà trường sẽ rơi vào thế bị động. Vì vậy, theo bà Tạ Thị Minh Thủy, cách tiếp cận phù hợp hơn là chủ động phòng ngừa, quan sát, phát hiện sớm và hỗ trợ theo mức độ cần thiết của từng học sinh.
Cụ thể, ở cấp độ chung, nhà trường cần trang bị cho học sinh kỹ năng phù hợp với lứa tuổi như nhận diện cảm xúc, quản lý áp lực, giao tiếp, xây dựng mối quan hệ tích cực, giải quyết mâu thuẫn và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần. Đây là những năng lực cần thiết đối với quá trình trưởng thành của học sinh.
Song song với đó, giáo viên cần quan sát thường xuyên những thay đổi của học sinh trong học tập, giao tiếp, cảm xúc và hành vi. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường kéo dài hoặc có ảnh hưởng rõ đến việc học tập, sinh hoạt, giáo viên cần trao đổi với cán bộ phụ trách tham vấn để có hướng tiếp cận phù hợp.
Đối với những trường hợp cần hỗ trợ sâu hơn, cán bộ chuyên trách sẽ trực tiếp trao đổi, tham vấn trong phạm vi của nhà trường. Trường hợp vượt quá khả năng hỗ trợ, nhà trường cần phối hợp với phụ huynh để kết nối học sinh với các cơ sở, chuyên gia phù hợp.
Từ thực tế quản lý tại Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức, bà Tạ Thị Minh Thủy cho rằng, một vấn đề rất quan trọng là tạo được niềm tin của học sinh đối với phòng tham vấn học đường.
Các em cần hiểu, việc tìm đến phòng tham vấn là nhu cầu bình thường khi gặp áp lực, khó khăn trong học tập, quan hệ bạn bè, gia đình hoặc khi có những điều chưa biết chia sẻ cùng ai. Khi học sinh cảm thấy an toàn và tin tưởng, các em sẽ chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ sớm hơn.
Vì vậy, nhà trường cũng chú trọng xây dựng phòng tham vấn theo hướng thân thiện, gần gũi, tôn trọng sự riêng tư và bảo đảm nguyên tắc bảo mật phù hợp. Cán bộ phụ trách cần duy trì sự kết nối với giáo viên, phụ huynh và học sinh để việc hỗ trợ diễn ra kịp thời, đúng mức.
Để triển khai hiệu quả tư vấn tâm lý trong trường học, PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh, tư duy nhà trường cần thay đổi. Không nên xem tư vấn tâm lý chỉ bó hẹp trong một căn phòng, mà cần coi đây là một bộ phận cấu thành hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện trong nhà trường.
Tầng phổ quát phải dành cho 100% học sinh. Các nội dung như nhận diện cảm xúc, điều hòa căng thẳng, kỹ năng tìm kiếm trợ giúp, giải quyết xung đột, xây dựng quan hệ bạn bè, phòng chống bắt nạt, an toàn số và năng lực phục hồi có thể được tích hợp vào sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm và đời sống học đường.
Tuy nhiên, cũng cần tránh một cực đoan khác là cho rằng tổ chức thật nhiều chuyên đề tâm lý cho toàn trường sẽ tự động giải quyết vấn đề. Các chương trình dự phòng phổ quát có thể cải thiện hiểu biết về sức khỏe tâm thần và một số khía cạnh của sức khỏe cảm xúc, nhưng hiệu quả trực tiếp đối với trầm cảm và lo âu thường nhỏ và không bền vững.
Vì vậy, PGS.TS Trần Thành Nam lưu ý, tầng phổ quát phải đi cùng phát hiện sớm có trách nhiệm. Thông tư 18 đã cho phép và yêu cầu cơ sở giáo dục khảo sát, rà soát, phỏng vấn, đánh giá, tổng hợp thông tin để phát hiện sớm, phân loại nhu cầu hỗ trợ.
Nhà trường có thể sử dụng công cụ sàng lọc đã được chuẩn hóa kết hợp với quan sát của giáo viên, thông tin từ gia đình và khả năng tự tìm kiếm trợ giúp của học sinh. Nhưng cần lưu ý, bảng hỏi sàng lọc không phải là công cụ chẩn đoán. Mọi quy trình phải gắn với bảo mật, quyền của người học và một đường chuyển tuyến rõ ràng, nếu không chúng ta sẽ tạo ra danh sách “học sinh nguy cơ” gán nhãn mà không có năng lực giúp đỡ các em.
Một điểm thường bị bỏ quên, theo PGS.TS Trần Thành Nam, là văn hóa nhà trường tự nó có thể là một biện pháp phòng ngừa. Xây dựng trường học hạnh phúc, trong đó có xây dựng “sense of belonging” tức cảm giác học sinh được thầy cô và bạn bè quan tâm, chấp nhận, thuộc về nhà trường, cho thấy mức gắn kết cao có liên quan với sức khỏe tâm thần tốt hơn và ít ý nghĩ tự sát hơn.
Vì thế, giáo viên biết tên học sinh, có thời gian lắng nghe, kỷ luật không trừng phạt, quan hệ thầy trò tôn trọng, cơ chế chống bắt nạt hiệu quả và sự tham gia của học sinh vào đời sống trường học đều là một phần của chính sách sức khỏe tâm thần.
“Hiệu quả của công tác tham vấn tâm lý học đường không nên được đánh giá bằng số lượng học sinh đến phòng tham vấn hay số trường hợp đã xử lý. Điều quan trọng hơn là học sinh có cảm thấy được lắng nghe, có biết tìm kiếm sự trợ giúp khi cần và nhà trường có nhận diện được những khó khăn của các em đủ sớm hay không”, bà Tạ Thị Minh Thủy nêu quan điểm.
Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức xây dựng một môi trường học đường trong đó học sinh được quan tâm cả về học tập, cảm xúc, đời sống tinh thần.
Đâu là giải pháp khả thi để tạo chuyển biến thực chất công tác này trong năm học mới khi các điều kiện triển khai còn hạn chế?
Xây dựng mạng lưới hỗ trợ nhiều tầng
PGS.TS Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, không thể kỳ vọng trong thời gian ngắn mỗi trường đều có ngay một nhà tâm lý chuyên nghiệp. Mục tiêu thực tế hơn là xây dựng mạng lưới hỗ trợ nhiều tầng, sử dụng đúng người cho đúng việc.
Ở tầng thứ nhất, toàn bộ giáo viên chủ nhiệm và một nhóm giáo viên nòng cốt cần được huấn luyện những năng lực tối thiểu như nhận diện thay đổi bất thường về cảm xúc, hành vi, học tập và quan hệ xã hội; biết cách mở một cuộc trò chuyện an toàn, biết điều tuyệt đối không nên nói với học sinh đang khủng hoảng và biết thời điểm phải chuyển tuyến. Đội ngũ này có thể được hướng dẫn, giám sát định kỳ bởi một chuyên gia thuộc các trường đại học.
Tầng thứ hai nên sử dụng nhân sự được đào tạo chuyên sâu theo cụm trường. Với những nơi chưa thể tuyển người chuyên trách, một chuyên gia có thể hỗ trợ một số trường gần nhau, vừa tiếp nhận các ca khó hơn, vừa giám sát chuyên môn cho đội ngũ tuyến đầu.
Tầng thứ ba là mạng lưới bệnh viện, chuyên khoa tâm thần, các nhà tâm lý lâm sàng, công tác xã hội và các dịch vụ bảo vệ trẻ em để tiếp nhận những trường hợp vượt quá khả năng của nhà trường.
Thông tư số 18/2025/TT-BGDĐT hướng dẫn về công tác tư vấn học đường và công tác xã hội trong trường học đã thiết kế cả cơ chế “chuyển gửi” tới trung tâm, đơn vị hoặc chuyên gia bên ngoài. Vấn đề hiện nay là mỗi trường phải biết rõ chuyển cho ai, bằng cách nào và ai theo dõi sau khi chuyển.
Giải pháp thứ hai PGS.TS Trần Thành Nam đưa ra là chuẩn hóa một quy trình phản ứng tối thiểu dưới dạng infographic trực quan thay vì để mỗi giáo viên tự xử lý theo kinh nghiệm.
Ví dụ, khi một học sinh có dấu hiệu tự hại, bị bạo lực hoặc có biểu hiện trầm cảm nặng, người đầu tiên tiếp nhận thông tin phải biết cần hỏi gì, không hỏi gì, báo cho đầu mối nào và trường hợp nào cần trợ giúp y tế khẩn cấp.
Một quy trình ngắn, rõ ràng và được diễn tập thường hiệu quả hơn nhiều so với những đợt tập huấn dài nhưng chung chung.
Thứ ba, PGS.TS Trần Thành Nam cho rằng, không thể chờ học sinh tự đến với các dịch vụ tâm lý, mà phải mở nhiều cổng như đặt lịch trực tuyến, hoặc một kênh báo tin bảo mật. Công nghệ và AI cũng có thể sử dụng nhưng chỉ là kênh tiếp cận, không thể thay thế con người.
Một buổi tư vấn tâm lý tại Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức (Hưng Yên).
Chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời
Để chuyển từ việc chỉ hỗ trợ khi học sinh phát sinh vấn đề sang chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời, bà Tạ Thị Minh Thủy - Hiệu trưởng Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức (Hưng Yên) cho rằng, trước hết cần thay đổi nhận thức về công tác tham vấn tâm lý học đường. Đây cần được xem là một phần của quá trình chăm sóc và giáo dục học sinh, được triển khai thường xuyên trong đời sống nhà trường.
Nếu chỉ chờ đến khi học sinh có biểu hiện rõ rệt hoặc xảy ra sự việc mới can thiệp, nhà trường sẽ rơi vào thế bị động. Vì vậy, theo bà Tạ Thị Minh Thủy, cách tiếp cận phù hợp hơn là chủ động phòng ngừa, quan sát, phát hiện sớm và hỗ trợ theo mức độ cần thiết của từng học sinh.
Cụ thể, ở cấp độ chung, nhà trường cần trang bị cho học sinh kỹ năng phù hợp với lứa tuổi như nhận diện cảm xúc, quản lý áp lực, giao tiếp, xây dựng mối quan hệ tích cực, giải quyết mâu thuẫn và tìm kiếm sự hỗ trợ khi cần. Đây là những năng lực cần thiết đối với quá trình trưởng thành của học sinh.
Song song với đó, giáo viên cần quan sát thường xuyên những thay đổi của học sinh trong học tập, giao tiếp, cảm xúc và hành vi. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường kéo dài hoặc có ảnh hưởng rõ đến việc học tập, sinh hoạt, giáo viên cần trao đổi với cán bộ phụ trách tham vấn để có hướng tiếp cận phù hợp.
Đối với những trường hợp cần hỗ trợ sâu hơn, cán bộ chuyên trách sẽ trực tiếp trao đổi, tham vấn trong phạm vi của nhà trường. Trường hợp vượt quá khả năng hỗ trợ, nhà trường cần phối hợp với phụ huynh để kết nối học sinh với các cơ sở, chuyên gia phù hợp.
Từ thực tế quản lý tại Trường TH, THCS&THPT Hồng Đức, bà Tạ Thị Minh Thủy cho rằng, một vấn đề rất quan trọng là tạo được niềm tin của học sinh đối với phòng tham vấn học đường.
Các em cần hiểu, việc tìm đến phòng tham vấn là nhu cầu bình thường khi gặp áp lực, khó khăn trong học tập, quan hệ bạn bè, gia đình hoặc khi có những điều chưa biết chia sẻ cùng ai. Khi học sinh cảm thấy an toàn và tin tưởng, các em sẽ chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ sớm hơn.
Vì vậy, nhà trường cũng chú trọng xây dựng phòng tham vấn theo hướng thân thiện, gần gũi, tôn trọng sự riêng tư và bảo đảm nguyên tắc bảo mật phù hợp. Cán bộ phụ trách cần duy trì sự kết nối với giáo viên, phụ huynh và học sinh để việc hỗ trợ diễn ra kịp thời, đúng mức.
Để triển khai hiệu quả tư vấn tâm lý trong trường học, PGS.TS Trần Thành Nam nhấn mạnh, tư duy nhà trường cần thay đổi. Không nên xem tư vấn tâm lý chỉ bó hẹp trong một căn phòng, mà cần coi đây là một bộ phận cấu thành hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần toàn diện trong nhà trường.
Tầng phổ quát phải dành cho 100% học sinh. Các nội dung như nhận diện cảm xúc, điều hòa căng thẳng, kỹ năng tìm kiếm trợ giúp, giải quyết xung đột, xây dựng quan hệ bạn bè, phòng chống bắt nạt, an toàn số và năng lực phục hồi có thể được tích hợp vào sinh hoạt lớp, hoạt động trải nghiệm và đời sống học đường.
Tuy nhiên, cũng cần tránh một cực đoan khác là cho rằng tổ chức thật nhiều chuyên đề tâm lý cho toàn trường sẽ tự động giải quyết vấn đề. Các chương trình dự phòng phổ quát có thể cải thiện hiểu biết về sức khỏe tâm thần và một số khía cạnh của sức khỏe cảm xúc, nhưng hiệu quả trực tiếp đối với trầm cảm và lo âu thường nhỏ và không bền vững.
Vì vậy, PGS.TS Trần Thành Nam lưu ý, tầng phổ quát phải đi cùng phát hiện sớm có trách nhiệm. Thông tư 18 đã cho phép và yêu cầu cơ sở giáo dục khảo sát, rà soát, phỏng vấn, đánh giá, tổng hợp thông tin để phát hiện sớm, phân loại nhu cầu hỗ trợ.
Nhà trường có thể sử dụng công cụ sàng lọc đã được chuẩn hóa kết hợp với quan sát của giáo viên, thông tin từ gia đình và khả năng tự tìm kiếm trợ giúp của học sinh. Nhưng cần lưu ý, bảng hỏi sàng lọc không phải là công cụ chẩn đoán. Mọi quy trình phải gắn với bảo mật, quyền của người học và một đường chuyển tuyến rõ ràng, nếu không chúng ta sẽ tạo ra danh sách “học sinh nguy cơ” gán nhãn mà không có năng lực giúp đỡ các em.
Một điểm thường bị bỏ quên, theo PGS.TS Trần Thành Nam, là văn hóa nhà trường tự nó có thể là một biện pháp phòng ngừa. Xây dựng trường học hạnh phúc, trong đó có xây dựng “sense of belonging” tức cảm giác học sinh được thầy cô và bạn bè quan tâm, chấp nhận, thuộc về nhà trường, cho thấy mức gắn kết cao có liên quan với sức khỏe tâm thần tốt hơn và ít ý nghĩ tự sát hơn.
Vì thế, giáo viên biết tên học sinh, có thời gian lắng nghe, kỷ luật không trừng phạt, quan hệ thầy trò tôn trọng, cơ chế chống bắt nạt hiệu quả và sự tham gia của học sinh vào đời sống trường học đều là một phần của chính sách sức khỏe tâm thần.
“Hiệu quả của công tác tham vấn tâm lý học đường không nên được đánh giá bằng số lượng học sinh đến phòng tham vấn hay số trường hợp đã xử lý. Điều quan trọng hơn là học sinh có cảm thấy được lắng nghe, có biết tìm kiếm sự trợ giúp khi cần và nhà trường có nhận diện được những khó khăn của các em đủ sớm hay không”, bà Tạ Thị Minh Thủy nêu quan điểm.
Định hướng nghề cho học sinh THCS 'sâu rễ, bền gốc'
GD&TĐ - Trong thời đại công nghệ số, việc chọn ngành, chọn nghề trong tương lai cho học sinh là điều mà nhiều cha mẹ, thầy cô quan tâm định hướng sớm.
2026-10-16 08:11
Biến bất đồng thành đối thoại
GD&TĐ - Khi một đứa trẻ nói “con ghét bố mẹ”, điều đó không có nghĩa mọi giới hạn trong gia đình cần được gỡ bỏ, cũng không có nghĩa cha mẹ phải chấp nhận mọi mong muốn của con.
2026-10-16 08:11
Hưng Yên tổ chức tưởng niệm 60 năm ngày hy sinh của cô giáo Bùi Thị Thanh Xuân
GD&TĐ - Lễ tưởng niệm dự kiến được tổ chức vào ngày 21/10 tại Di tích lịch sử quốc gia Khu tưởng niệm 21/10 (xã Tây Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên).
2026-10-16 08:10
Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
GD&TĐ - Ngày 15/10/2026, thay mặt BCH Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 105-KL/TW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.
2026-10-16 03:50
Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
GD&TĐ - Sở GD&ĐT Đắk Lắk vừa phê duyệt kết quả xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, đồng thời yêu cầu rà soát tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
2026-10-16 03:50
Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
GD&TĐ - Năm học 2026–2027 đánh dấu bước chuyển mới của giáo dục vùng biên Lai Châu khi 5 trường PTNT liên cấp TH&THCS được khánh thành, đưa vào sử dụng.
2026-10-16 03:49
Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.
2026-10-16 03:49
Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.
2026-10-16 03:48
Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.
2026-10-16 03:48
Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.