Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Vai trò của các trường đại học trong phát triển công nghệ chiến lược

2026/04/10 16:38

GD&TĐ - Trong thế kỷ XXI, công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia.


Theo đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) hy vọng, Quốc hội khóa XVI sẽ bàn thảo sâu sắc và có những quyết sách thấu đáo về vấn đề này.

Chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược

Lý giải cho những mong mỏi trên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức phân tích, những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ, mà chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, việc xây dựng và triển khai chương trình công nghệ chiến lược (CNCL) mang ý nghĩa sống còn, không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh, tự chủ và phát triển bền vững.
Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy phát triển CNCL hiện nay là sự chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán quốc gia.
Điều này thể hiện một bước tiến lớn về nhận thức: công nghệ không phải là điểm xuất phát, mà là công cụ để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. Theo đó, chuỗi logic phát triển cần được thiết kế theo hướng: từ bài toán quốc gia, đến sản phẩm chiến lược, đến công nghệ lõi và cuối cùng là thị trường. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng nghiên cứu rời rạc, thiếu định hướng và không gắn với thực tiễn – một hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài.
Trong cấu trúc đó, công nghệ lõi đóng vai trò trung tâm, là thước đo năng lực tự chủ quốc gia. Và chính tại điểm này, vai trò của các trường đại học trở nên đặc biệt quan trọng. Nếu doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm và thị trường, thì các viện nghiên cứu và trường đại học chính là nơi tạo ra tri thức nền tảng và phát triển công nghệ lõi. Đây là một phân công chiến lược, phản ánh đúng bản chất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại.
Các công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường ngắn hạn hay dưới áp lực thương mại tức thời. Chúng đòi hỏi quá trình nghiên cứu dài hạn, tích lũy tri thức sâu và một môi trường học thuật tự do, sáng tạo.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.


Sứ mệnh của cơ sở giáo dục đại học

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, đại học là nơi duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học, trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.
Bên cạnh đó, đại học còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – yếu tố quyết định thành công của mọi chương trình công nghệ lõi, CNCL. Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu và sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn.
Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế lại, trước hết phải có nền tảng kiến thức cơ bản thật hiện đại - bởi nếu không có nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu và mạnh, thì không thể nào vươn tới làm chủ công nghệ lõi, đồng thời đào tạo ở đại học phải gắn kết chặt chẽ với các bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược. Sinh viên không chỉ học để biết, mà học để làm, để thiết kế và để đổi mới.
Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, một điểm đột phá khác trong chính sách phát triển CNCL là vai trò của nhà nước trong việc tạo lập thị trường. Thay vì chỉ tài trợ nghiên cứu, nhà nước còn đóng vai trò là người mua đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược.
Đây là công cụ mạnh, đã được nhiều quốc gia như: Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc áp dụng thành công. Cách tiếp cận này giúp giải quyết một nút thắt quan trọng: đầu ra của nghiên cứu. Đối với các trường đại học, điều này mở ra cơ hội lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo.
Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh để có thể nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi thị trường được đảm bảo bởi các chính sách công, rủi ro thương mại hóa giảm đáng kể, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng.
Song song với đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo các bài toán lớn cũng giúp định hướng hoạt động khoa học công nghệ một cách hiệu quả hơn. Thay vì các đề tài nhỏ lẻ, phân tán, các trường đại học cần chuyển sang tham gia các chương trình lớn, mang tính liên ngành và có mục tiêu rõ ràng.
Điều này đòi hỏi sự thay đổi cả về tổ chức nghiên cứu lẫn tư duy của các nhà khoa học, từ nghiên cứu cá nhân sang nghiên cứu theo nhóm mạnh, từ công bố khoa học sang tạo ra giá trị thực tiễn.
Một yếu tố quan trọng khác là vai trò của tiêu chuẩn trong phát triển CNCL. Khác với tư duy truyền thống, tiêu chuẩn không còn là bước đi sau cùng, mà phải đi trước để định hướng công nghệ và tạo lập thị trường.
Việc xây dựng các tiêu chuẩn, kể cả dưới dạng pre-standard, sẽ giúp định hình hướng phát triển, tạo điều kiện cho đấu thầu, mua sắm và sản xuất hàng loạt. Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn, thông qua nghiên cứu, đánh giá và so sánh quốc tế. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là một phần của chiến lược hội nhập và nâng cao vị thế khoa học của quốc gia.

Đổi mới cơ chế

Sinh viên Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) trong ngày tốt nghiệp.

Về mặt cơ chế, đổi mới tài chính và quản trị khoa học công nghệ cũng là một điều kiện cần thiết. Việc chuyển sang cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding” giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị nghiên cứu.
Tuy nhiên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, đi kèm với tự chủ là trách nhiệm giải trình, được thể hiện thông qua hệ thống đánh giá theo bốn tầng: đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Đây là một cách tiếp cận hiện đại, giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, từ nghiên cứu đến ứng dụng và tác động xã hội.
Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần thực hiện một quá trình chuyển đổi toàn diện. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào các lĩnh vực CNCL và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Tiếp theo, cần cải tiến chương trình để người học có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức quản lý đào tạo gắn với doanh nghiệp, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, triển khai hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước – Doanh nghiệp- Nhà khoa học và trường đại học.
Cần triển khai đào tạo các công trình sư, tổng công trình sư ở một số trường đại học công nghệ-kỹ thuật trọng điểm. Nhà nước cũng cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.
Với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi cần đổi mới tư duy, sử dụng và giao nhiệm vụ theo theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”. Việt Nam cũng rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với cơ chế linh hoạt, cho phép các trường đại học thử nghiệm công nghệ mới mà không phải xin phép.
Đây là điều kiện cần thiết để các trường đại học và các nhà khoa học mạnh dạn dấn thân vào phát triển các lĩnh vực liên quan đến các công nghệ cao liên quan đến an ninh, quốc phòng như UAV, camera AI, hay các lĩnh vực liên quan đến AI, năng lượng mới, đô thị thông minh,…
Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, mà còn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tự chủ đại học, để các trường đại học có thể phát huy tốt nhất, nhanh nhất mọi nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển.
Tựu trung lại, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ, mà là một chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong chiến lược đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều phối, doanh nghiệp đóng vai trò triển khai và thương mại hóa, còn các trường đại học giữ vai trò nền tảng – nơi hình thành tri thức, công nghệ lõi và nguồn nhân lực, và nhà khoa học có vai trò then chốt trong hệ sinh thái sáng tạo trí thức, công nghệ.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá. Điều quan trọng là phải hành động một cách đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, các trường đại học cũng đang đứng trước một cơ hội vàng để phát triển. Trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình – không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh ra tri thức và các công nghệ lõi, là trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia” - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.


Theo đó, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức – Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) hy vọng, Quốc hội khóa XVI sẽ bàn thảo sâu sắc và có những quyết sách thấu đáo về vấn đề này.

Chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược

Lý giải cho những mong mỏi trên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức phân tích, những quốc gia thành công đều không chỉ tiếp cận công nghệ, mà chủ động kiến tạo và làm chủ các công nghệ chiến lược.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình phát triển, việc xây dựng và triển khai chương trình công nghệ chiến lược (CNCL) mang ý nghĩa sống còn, không chỉ về kinh tế mà còn về an ninh, tự chủ và phát triển bền vững.
Một điểm đặc biệt quan trọng trong tư duy phát triển CNCL hiện nay là sự chuyển đổi từ cách tiếp cận dựa trên công nghệ sang cách tiếp cận dựa trên bài toán quốc gia.
Điều này thể hiện một bước tiến lớn về nhận thức: công nghệ không phải là điểm xuất phát, mà là công cụ để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước. Theo đó, chuỗi logic phát triển cần được thiết kế theo hướng: từ bài toán quốc gia, đến sản phẩm chiến lược, đến công nghệ lõi và cuối cùng là thị trường. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng nghiên cứu rời rạc, thiếu định hướng và không gắn với thực tiễn – một hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài.
Trong cấu trúc đó, công nghệ lõi đóng vai trò trung tâm, là thước đo năng lực tự chủ quốc gia. Và chính tại điểm này, vai trò của các trường đại học trở nên đặc biệt quan trọng. Nếu doanh nghiệp tập trung vào sản phẩm và thị trường, thì các viện nghiên cứu và trường đại học chính là nơi tạo ra tri thức nền tảng và phát triển công nghệ lõi. Đây là một phân công chiến lược, phản ánh đúng bản chất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại.
Các công nghệ lõi không thể hình thành trong môi trường ngắn hạn hay dưới áp lực thương mại tức thời. Chúng đòi hỏi quá trình nghiên cứu dài hạn, tích lũy tri thức sâu và một môi trường học thuật tự do, sáng tạo.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.


Sứ mệnh của cơ sở giáo dục đại học

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức nhấn mạnh, với sứ mệnh nghiên cứu, sáng tạo tri thức và đào tạo, đại học là nơi duy nhất có thể đảm đương vai trò này một cách bền vững. Những lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, cơ học tính toán, công nghệ sinh học, công nghệ hàng không vũ trụ hay bán dẫn… đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản trong môi trường đại học, trước khi được chuyển hóa thành các ứng dụng công nghiệp.
Bên cạnh đó, đại học còn là nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao – yếu tố quyết định thành công của mọi chương trình công nghệ lõi, CNCL. Trong bối cảnh mới, đào tạo đại học không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, mà phải hướng tới phát triển năng lực nghiên cứu và sáng tạo, tư duy hệ thống và khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn.
Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo phải được thiết kế lại, trước hết phải có nền tảng kiến thức cơ bản thật hiện đại - bởi nếu không có nền tảng khoa học cơ bản đủ sâu và mạnh, thì không thể nào vươn tới làm chủ công nghệ lõi, đồng thời đào tạo ở đại học phải gắn kết chặt chẽ với các bài toán lớn của quốc gia và các dự án công nghệ chiến lược. Sinh viên không chỉ học để biết, mà học để làm, để thiết kế và để đổi mới.
Cũng theo GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, một điểm đột phá khác trong chính sách phát triển CNCL là vai trò của nhà nước trong việc tạo lập thị trường. Thay vì chỉ tài trợ nghiên cứu, nhà nước còn đóng vai trò là người mua đầu tiên, hoặc tạo ra nhu cầu thị trường đủ lớn cho các sản phẩm chiến lược.
Đây là công cụ mạnh, đã được nhiều quốc gia như: Mỹ, Trung Quốc hay Hàn Quốc áp dụng thành công. Cách tiếp cận này giúp giải quyết một nút thắt quan trọng: đầu ra của nghiên cứu. Đối với các trường đại học, điều này mở ra cơ hội lớn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đổi mới sáng tạo.
Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh để có thể nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp spin-off để thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Khi thị trường được đảm bảo bởi các chính sách công, rủi ro thương mại hóa giảm đáng kể, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho nghiên cứu ứng dụng.
Song song với đó, cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo các bài toán lớn cũng giúp định hướng hoạt động khoa học công nghệ một cách hiệu quả hơn. Thay vì các đề tài nhỏ lẻ, phân tán, các trường đại học cần chuyển sang tham gia các chương trình lớn, mang tính liên ngành và có mục tiêu rõ ràng.
Điều này đòi hỏi sự thay đổi cả về tổ chức nghiên cứu lẫn tư duy của các nhà khoa học, từ nghiên cứu cá nhân sang nghiên cứu theo nhóm mạnh, từ công bố khoa học sang tạo ra giá trị thực tiễn.
Một yếu tố quan trọng khác là vai trò của tiêu chuẩn trong phát triển CNCL. Khác với tư duy truyền thống, tiêu chuẩn không còn là bước đi sau cùng, mà phải đi trước để định hướng công nghệ và tạo lập thị trường.
Việc xây dựng các tiêu chuẩn, kể cả dưới dạng pre-standard, sẽ giúp định hình hướng phát triển, tạo điều kiện cho đấu thầu, mua sắm và sản xuất hàng loạt. Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần tham gia tích cực vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn, thông qua nghiên cứu, đánh giá và so sánh quốc tế. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà còn là một phần của chiến lược hội nhập và nâng cao vị thế khoa học của quốc gia.

Đổi mới cơ chế

Sinh viên Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) trong ngày tốt nghiệp.

Về mặt cơ chế, đổi mới tài chính và quản trị khoa học công nghệ cũng là một điều kiện cần thiết. Việc chuyển sang cơ chế cấp phát ngân sách theo dạng “block funding” giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tăng tính linh hoạt và trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các đơn vị nghiên cứu.
Tuy nhiên, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, đi kèm với tự chủ là trách nhiệm giải trình, được thể hiện thông qua hệ thống đánh giá theo bốn tầng: đầu vào, đầu ra, kết quả và tác động. Đây là một cách tiếp cận hiện đại, giúp đánh giá đầy đủ hiệu quả của hoạt động khoa học công nghệ, từ nghiên cứu đến ứng dụng và tác động xã hội.
Trong bối cảnh đó, các trường đại học cần thực hiện một quá trình chuyển đổi toàn diện. Trước hết, cần xây dựng các đại học nghiên cứu mạnh, tập trung vào các lĩnh vực CNCL và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Tiếp theo, cần cải tiến chương trình để người học có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức quản lý đào tạo gắn với doanh nghiệp, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong trường đại học, bao gồm các trung tâm nghiên cứu, vườn ươm công nghệ và các doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, triển khai hiệu quả mô hình hợp tác 4 nhà: Nhà nước – Doanh nghiệp- Nhà khoa học và trường đại học.
Cần triển khai đào tạo các công trình sư, tổng công trình sư ở một số trường đại học công nghệ-kỹ thuật trọng điểm. Nhà nước cũng cần đầu tư cho các chương trình đào tạo cử nhân và kỹ sư tài năng trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ mũi nhọn.
Với các chuyên gia, nhà khoa học giỏi cần đổi mới tư duy, sử dụng và giao nhiệm vụ theo theo nguyên tắc “làm theo nhu cầu, hưởng theo năng lực”. Việt Nam cũng rất cần xây dựng các khu thử nghiệm đặc biệt (sandbox) với cơ chế linh hoạt, cho phép các trường đại học thử nghiệm công nghệ mới mà không phải xin phép.
Đây là điều kiện cần thiết để các trường đại học và các nhà khoa học mạnh dạn dấn thân vào phát triển các lĩnh vực liên quan đến các công nghệ cao liên quan đến an ninh, quốc phòng như UAV, camera AI, hay các lĩnh vực liên quan đến AI, năng lượng mới, đô thị thông minh,…
Cuối cùng, cần tăng cường hợp tác quốc tế, không chỉ để tiếp cận tri thức mới, công nghệ mới, mà còn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường tự chủ đại học, để các trường đại học có thể phát huy tốt nhất, nhanh nhất mọi nguồn lực cho sự đổi mới sáng tạo và phát triển.
Tựu trung lại, phát triển công nghệ chiến lược không chỉ là nhiệm vụ của ngành khoa học và công nghệ, mà là một chiến lược tổng thể của quốc gia. Trong chiến lược đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo và điều phối, doanh nghiệp đóng vai trò triển khai và thương mại hóa, còn các trường đại học giữ vai trò nền tảng – nơi hình thành tri thức, công nghệ lõi và nguồn nhân lực, và nhà khoa học có vai trò then chốt trong hệ sinh thái sáng tạo trí thức, công nghệ.
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, nếu không có đại học mạnh, không có các nhà khoa học giỏi và đội ngũ các công trình sư, tổng công trình sư, không thể có công nghệ lõi. Nếu không có công nghệ lõi, không thể có sản phẩm chiến lược. Và nếu không có sản phẩm chiến lược, quốc gia sẽ không thể tự chủ, giàu mạnh hùng cường và phát triển bền vững.
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn để bứt phá. Điều quan trọng là phải hành động một cách đồng bộ, kiên định và có tầm nhìn dài hạn. Trong hành trình đó, các trường đại học cũng đang đứng trước một cơ hội vàng để phát triển. Trường đại học cần được đặt đúng vị trí của mình – không chỉ là nơi đào tạo, mà còn là nơi nghiên cứu đỉnh cao, sản sinh ra tri thức và các công nghệ lõi, là trụ cột của hệ sinh thái công nghệ chiến lược quốc gia” - GS.TSKH Nguyễn Đình Đức.

Chia sẻ
công nghệ chiến lượcphát triển công nghệ chiến lượcVai trò của các trường đại họcVai trò của các trường đại học trong phát triển công nghệ chiến lược
Theo Minh Phong (ghi)
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/04/09 17:52 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong kỷ nguyên AI
Trao đổi - kết nối

Đổi mới phương pháp giảng dạy tiếng Anh trong kỷ nguyên AI

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Trao đổi - kết nối

40 năm Đổi mới: Nhận diện động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Từ coi trọng người giỏi đến kiến tạo môi trường để nhân tài tạo ra giá trị
Trao đổi - kết nối

Từ coi trọng người giỏi đến kiến tạo môi trường để nhân tài tạo ra giá trị

Phát triển năng lực sáng tạo cho giáo viên mầm non thời chuyển đổi số AI
Trao đổi - kết nối

Phát triển năng lực sáng tạo cho giáo viên mầm non thời chuyển đổi số AI

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh
Trao đổi - kết nối

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn
Trao đổi - kết nối

Linh hoạt triển khai Giáo dục địa phương với 6 phân môn

Mới nhất

2026-10-17 10:09

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng

GD&TĐ - Hưng Yên tăng cường bảo đảm an toàn trường học, đẩy mạnh phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội trong phòng, chống xâm hại học sinh.

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
2026-10-17 10:09

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập

GD&TĐ - Trường học TPHCM đẩy mạnh ứng dụng AI, giúp giáo viên đổi mới phương pháp, hỗ trợ học sinh học tập chủ động, hiệu quả và an toàn hơn.

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
2026-10-17 10:08

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

GD&TĐ - Sở GD&ĐT Bắc Ninh vừa phát động phong trào “Trang sách hồng” nhằm tái sử dụng sách giáo khoa, hỗ trợ học sinh khó khăn và hạn chế lãng phí.

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
2026-10-17 10:07

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

GD&TĐ - Việc kiến tạo không gian kết nối, trải nghiệm thực tiễn và khơi dậy tinh thần sáng tạo, khát vọng vươn lên cho sinh viên là rất quan trọng.

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
2026-10-17 10:07

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026

GD&TĐ - Cả 4 học sinh Việt Nam tham dự Olympic Vật lí quốc tế Al-Fergani 2026 đều đoạt huy chương, gồm 1 Vàng, 2 Bạc và 1 Đồng.

Việt Nam giành 4 huy chương, xếp thứ tư Olympic Vật lí Al-Fergani 2026
2026-10-17 10:07

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026

GD&TĐ - Chương trình EDTECH VIETNAM – SEI Awards 2026 hướng đến tôn vinh sáng kiến, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong giáo dục.

Khởi động chương trình thúc đẩy chuyển đổi số giáo dục năm 2026
2026-10-17 10:06

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục

GD&TĐ - Triển lãm VIETEDU HANOI 2026 diễn ra tại Hà Nội, giới thiệu các giải pháp công nghệ phục vụ dạy học và quản lý giáo dục.

Giới thiệu giải pháp công nghệ phục vụ đổi mới giáo dục
2026-10-17 10:06

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập

GD&TĐ - Sáng 17/10, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm 75 năm thành lập (1951–2026).

Khoa Hóa học Trường ĐH Sư phạm Hà Nội kỷ niệm 75 năm thành lập
2026-10-17 10:05

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

GD&TĐ - Chiều 15/10, Đoàn công tác Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội làm việc với Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương về định hướng phát triển.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội làm việc với Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
2026-10-17 10:05

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam

GD&TĐ - Hội thảo khảo cổ học lần thứ 61 công bố 396 nghiên cứu, bổ sung tư liệu về lịch sử, văn hóa Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Những phát hiện khảo cổ mới làm sáng tỏ lịch sử Việt Nam