Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Phạm Thị Thu Thảo

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Hậu duệ nhà Lý và mạch nguồn khoa bảng Vân Điềm

2026/06/29 09:29

GD&TĐ - Từ một nhánh hậu duệ hoàng tộc nhà họ Lý, dòng họ Nguyễn ở làng Vân Điềm đã bền bỉ gây dựng truyền thống hiếu học qua nhiều thế kỷ.


Không chỉ sản sinh nhiều bậc khoa bảng, dòng họ này còn góp phần tạo nên diện mạo văn hiến rực rỡ của vùng Kinh Bắc.
Làng Vân Điềm (tên nôm Kẻ Đóm), nay thuộc xã Thư Lâm (Hà Nội), trong suốt tiến trình lịch sử luôn gắn bó với Đông Ngàn, Từ Sơn và trấn Kinh Bắc – vùng đất nổi tiếng với truyền thống Nho học hàng đầu cả nước. Bởi vậy, trong tác phẩm Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự có câu: “Vân Điềm đất của xương phiền/ Cha con sánh bước hoè hiên chen bầy”.

Hốt bạc nghĩa tình, thần trao đai ngọc

Theo lưu truyền dân gian, vào đầu thế kỷ XV, tại khu vực làng và cánh đồng Vân Điềm ngày nay đã hình thành bốn cụm dân cư gồm làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Ba Điểm. Về sau, các cụm dân cư này tụ hội, hình thành một làng lớn với tên hành chính ban đầu là thôn Nội Điểm, thuộc xã Hà Lỗ, rồi đổi thành Vân Điềm và tách thành một xã độc lập.
Trong cơ cấu cư dân, chỉ có một dòng họ mang họ Lê, còn lại phần lớn là họ Nguyễn. Tiêu biểu trong số các dòng họ đến sớm là họ “Nguyễn Đại tôn”, vốn có nguồn gốc từ nhà Lý, thuộc nhánh của Lý Quang Bật và Lý Long Tường (cùng hàng với vua Lý Huệ Tông).
Sử chép, sau khi Trần Thủ Độ buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, nhà Lý chấm dứt, nhà Trần lên thay. Hậu duệ hoàng tộc phải lưu tán hoặc đổi họ. Nhánh của Lý Hưng Tích (con vua Lý Thánh Tông) đổi sang họ Nguyễn, về sinh sống tại Vân Điềm (huyện Đông Ngàn), từ đó hình thành dòng họ Nguyễn tại địa phương.
Mang dòng dõi hoàng tộc, đến cuối thế kỷ XVI, con cháu họ Nguyễn ở Vân Điềm bắt đầu xuất hiện nhiều nhân tài khoa bảng, với 6 vị đỗ Tiến sĩ. Sách Đăng khoa lục sưu giảng của Thượng thư Trần Tiến (thời Lê trung hưng) ghi lại câu chuyện về một vị tổ họ Nguyễn (không rõ tên), nổi tiếng bởi đức độ và lòng nhân hậu.
Tuy có học nhưng gia cảnh nghèo, ông phải dạy học mưu sinh. Gặp năm mất mùa, ông cùng một số người lên vùng Hưng Hóa dạy học, làm thuê. Mỗi năm, họ đi từ đầu năm đến cuối năm mới trở về, mang theo chút tiền để trang trải nợ nần và lo Tết.
Một năm nọ, trên đường về, ông chỉ kiếm được một khoản tiền ít ỏi. Khi dừng chân ở quán nước ven đường, ông nghe một người đàn ông nghèo than khóc vì không trả được nợ, mẹ bị chủ nợ giam giữ. Trong tuyệt vọng, người này định tìm đến cái chết. Động lòng trắc ẩn, ông đã dùng toàn bộ số tiền mình có, khoảng 30 quan để giúp người kia chuộc mẹ.
Trở về trong cảnh tay trắng, ông chỉ nói với vợ rằng tiền đã tiêu vào việc thuốc thang. Người vợ không trách móc, mà chia sẻ đã đi làm thuê kiếm được ít gạo, đủ cho gia đình cầm cự qua Tết. Cả nhà đón năm mới trong cảnh đạm bạc nhưng ấm cúng.
Đêm ấy, người vợ mộng thấy một vị thần trao chiếc đai ngọc, dặn để dành cho con cháu. Sau Tết, ông tìm đến thăm người đã được giúp đỡ. Trên đường đi, ông gặp một thầy phong thủy, được chỉ cho thế đất quý hình “ngọc đới”. Khi tìm đến, ông mới biết chủ nhân mảnh đất chính là người từng chịu ơn mình.
Cảm kích, người này biếu ông khu đất để táng mộ tổ. Từ đó, dòng họ dần phát đạt. Con ông là Nguyễn Bảo nổi tiếng học giỏi, đến năm 1595 dự khoa thi và đỗ Đình nguyên. Nhà vua sau đó đổi tên ông thành Nguyễn Thực.
Bia đá bốn mặt do Tiến sĩ Phạm Công Trứ soạn, đặt tại nhà thờ Hoàng giáp Nguyễn Thực.


Một đời thanh liêm, nhiều đời hiển đạt

Theo các tài liệu đăng khoa, Nguyễn Thực (1555 - 1637), thuở nhỏ tên Nguyễn Bảo, thuộc đời thứ 5 dòng họ ở Vân Điềm. Ông nổi tiếng thông minh, dĩnh ngộ, học hành tiến bộ nên sớm được trọng dụng. Năm 1595, khi 41 tuổi, ông đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi, đời Lê Thế Tông, mở đầu con đường quan lộ rộng mở với chức Hàn lâm viện Hiệu thảo.
Từ năm 1597 đến đầu thế kỷ XVII, ông liên tục được thăng chức: Lễ bộ Đô cấp sự trung, Kiểm sát sứ Thanh Hoa (1597); Bản sứ đề hình (1598); Hộ khoa Đô cấp sự trung, tước Khánh Xuyên nam (1599). Năm 1602, ông thăng Hồng lô tự khanh, tước Khánh Xuyên tử; năm 1604 giữ chức Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Khánh Xuyên bá. Năm 1606, ông được cử đi sứ nhà Minh.
Sau đó, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách: Tả Thị lang bộ Lễ (1610), Thượng thư bộ Hình (1618), kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Trưởng Hàn lâm viện sự (1619). Đến thời Lê Thần Tông, ông được phong Đông các Đại học sĩ; năm 1623 giữ hàm Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lễ. Năm 1625, ông được ban chức Dực vận tán trị công thần; năm 1627 thăng Thái phó, tước Lan Quận công.
Những năm cuối đời, ông tiếp tục được gia phong các chức vị cao như Thái úy (1630), Quốc lão (1632), Thái bảo; năm 1633 được phong Thượng trụ quốc. Năm 1634, ông chuyển sang giữ chức Thượng thư bộ Hộ, hàm Thái phó, rồi xin trí sĩ.
Dù đã nghỉ hưu, ông vẫn được triều đình trọng vọng, thường được tham vấn khi có việc lớn. Trong đời sống thường nhật, ông sống khiêm nhường, chan hòa, không phân biệt sang hèn, được nhân dân kính trọng. Ông cũng chú trọng đào tạo nhân tài, có đóng góp trong việc xây dựng văn chỉ cấp huyện tại thôn Cổ Châu.
Ông mất năm 1637, thọ 82 tuổi. Triều đình để tang 3 ngày, truy tặng chức Thái tể, ban thụy hiệu Trung Thuần. Ông được nhân dân làng Hương Mặc tôn làm Thành hoàng, còn làng Vân Điềm lập bia ghi công, thờ phụng. Sách Lịch triều hiến chương loại chí đánh giá ông là người “thuần hậu, trong sạch, cẩn trọng, không lập sản nghiệp; làm quan qua nhiều vị trí vinh hiển mà vẫn thanh bạch, có phong độ bậc danh thần”.
Con trai ông là Nguyễn Nghi (1588-1657), nổi tiếng nghiêm cẩn, học vấn uyên thâm. Năm 32 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1619) đời Lê Kính Tông. Năm 1630, ông được cử đi sứ nhà Minh. Trong sự nghiệp, ông từng giữ các chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, Lại bộ Thượng thư, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Thiếu phó, tước Dương Quận công; khi mất được truy tặng Thái phó.
Em trai Nguyễn Nghi là Nguyễn Phú cũng đỗ đạt, từng giữ các chức Viên ngoại lang bộ Hộ, Tham nghị, Tán lý đại thần, sau thăng Thượng thư bộ Lại, hàm Thái phó.
Nguyễn Nghi có 5 con trai đều thành đạt, gồm: Nguyễn Sủng (được phong Xuân Trường bá), Nguyễn Đậu, Nguyễn Hoành, Nguyễn Tào, Nguyễn Thái (đều được phong Hoằng tín đại phu). Trong đó, Nguyễn Sủng, tự Đạo Nguyên, là người tiêu biểu, được ghi nhận trong bia do Phạm Công Trứ soạn, với nhiều lời ca ngợi về đức độ và tài năng.
Lăng mộ Hoàng giáp, Tiến sĩ Nguyễn Thực.


Nối dài truyền thống khoa bảng

Cháu tằng tôn của Nguyễn Thực là Nguyễn Khuê, anh của Nguyễn Sĩ, cha của Nguyễn Thẩm, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông khi 33 tuổi. Ông từng giữ chức Khuyến nông sứ (1725), sau thăng đến Hình bộ Thị lang, rồi bị giáng xuống Thái bộc tự khanh, tước Diễn Phúc tử.
Con trai ông là Nguyễn Thẩm đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706), từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như Hữu Thị lang bộ Lễ, Đốc đồng Sơn Tây, Hình khoa Đô cấp sự trung, Quốc Tử Giám Tế tửu. Con gái ông kết hôn với Quách Văn Giai (đỗ Thám hoa năm 1680), làm quan đến Hồng lô tự khanh.
Nguyễn Sĩ, em Nguyễn Khuê, cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) khi 26 tuổi, làm quan đến chức Giám sát. Ở đời sau, Nguyễn Thưởng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) đời Lê Hiển Tông, từng giữ các chức Hàn lâm viện Thị giảng, Binh bộ Hữu Thị lang, Đốc thị đạo Thuận Quảng, tước Khánh Xuyên hầu.
Một nhánh khác có Nguyễn Yến (1639-1679), cháu đời thứ tư của Nguyễn Thực, đỗ Tạo sĩ năm 30 tuổi. Sau khi đỗ đạt, ông được phong Đội trưởng xuất thân quản, Cơ sát quản tỉnh Sơn Tây, rồi Phán Dũng tướng quân, tước Hoằng Trí bá. Hậu duệ của ông tiếp tục kết nối với nhiều gia đình khoa bảng, danh giá.
Ngoài các vị đỗ đại khoa, dòng họ còn có nhiều người đỗ trung khoa, tiểu khoa và tham gia bộ máy quan lại qua các triều. Chẳng hạn, con cháu của Nguyễn Sủng ngoài hai người đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Khuê và Nguyễn Sĩ, những người còn lại cũng giữ các chức vụ như Hiển cung đại phu, Tri huyện, Đồng tri phủ, Chánh suất đội. Con gái trong họ kết hôn với Nguyễn Ngô Chung (đỗ Tiến sĩ năm 1676), làm Thượng thư bộ Hộ.
Nguyễn Thẩm có 4 con trai đều đỗ Cử nhân, giữ các chức vụ như Tán trị thừa chính sứ ty, Tri huyện Hiệp Hòa, Huấn đạo phủ Trường Khánh, Hiệu lực vệ… Con gái ông kết hôn với Nguyễn Lân, người cùng làng Vân Điềm.
Một chi của dòng họ chuyển cư đến Du Lâm, sinh ra Nguyễn Tư Giản (Hoàng giáp năm 1844), từng giữ chức Thượng thư bộ Lại, nổi tiếng về thơ văn và được vua Tự Đức trọng dụng. Con ông là Nguyễn Hữu Kham đỗ Tiến sĩ năm 1871, làm quan đến Tham biện, Hồng lô tự khanh.
Dù ở Vân Điềm hay Du Lâm, dòng họ Nguyễn Thực vẫn duy trì truyền thống hiếu học, liên tục sản sinh nhân tài cho đất nước. Tại nhà thờ họ ở Vân Điềm hiện còn lưu giữ nhiều câu đối ca ngợi truyền thống khoa bảng, như: “Công Khuê tướng ấn triều vinh ngộ/ Tử hiếu thần trung quốc giản như”; “Gia đình tố giảng thi thư lễ/ Tướng tướng liên đăng tổ phụ tôn”; “Nhụy bảng lưu phương triều Tiến sĩ/ Hoè hiên dự chính quốc danh thần”. Những câu đối này khắc họa hình ảnh một dòng họ nhiều đời hiển đạt, thanh bạch, trung quân ái quốc, giữ trọn đạo hiếu và đạo học.
Có thể nói, dòng họ Nguyễn Thực là một trong những dòng họ tiêu biểu của Kinh Bắc, không chỉ nổi bật bởi truyền thống khoa bảng mà còn là tấm gương về tinh thần hiếu học, góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng nhân tài qua nhiều thế hệ. Đến nay, truyền thống ấy vẫn được con cháu Vân Điềm gìn giữ và phát huy.
Làng Vân Điềm hiện còn bảo tồn nhiều di sản quý, như đình làng được xếp hạng di tích cấp quốc gia, nhà thờ Hoàng giáp Nguyễn Thực và Tiến sĩ Nguyễn Lân. Đặc biệt, văn chỉ của làng vẫn lưu giữ hai tấm bia lập năm 1674 - 1675, với bài văn bia do Phạm Công Trứ soạn, ca ngợi truyền thống khoa bảng lâu đời của địa phương.
Theo “Văn bia về gia tộc Nguyễn Thực làng Vân Điềm”: Trong nghề dạy học, danh tiếng của cụ ngày càng lan rộng. Học trò từ nhiều nơi tìm đến, mong được thầy chỉ dẫn tận tình. Dưới mái trường của cụ, ai cũng ước được thụ hưởng chút ‘hương thơm’ của đạo học. Bước chân vào cửa thầy là tìm được châu, hái được ngọc. Từ đây, có người làm đến chức Thừa ty Hiến sát, có người giữ cương vị Đô đốc Ngự sử; người đỗ Tam trường, người đỗ thi Hội, có người đỗ Giải nguyên – tất cả đều trưởng thành từ ngôi trường này. Học trò theo học cụ đều tiến bộ nhanh chóng, như cá vượt vũ môn, như diều gặp gió. Ai nấy đều mang trong lòng niềm hứng khởi, như chim bằng tung cánh, chim phượng múa lượn. Họ tìm đến giảng đường không chỉ để cầu vinh hiển, mà trước hết là để được sống trong niềm vui của cái văn, cái chữ.

Theo truyền tụng, họ Nguyễn Đại tôn ở Vân Điềm có nguồn gốc từ hoàng tộc nhà Lý.

Không chỉ sản sinh nhiều bậc khoa bảng, dòng họ này còn góp phần tạo nên diện mạo văn hiến rực rỡ của vùng Kinh Bắc.
Làng Vân Điềm (tên nôm Kẻ Đóm), nay thuộc xã Thư Lâm (Hà Nội), trong suốt tiến trình lịch sử luôn gắn bó với Đông Ngàn, Từ Sơn và trấn Kinh Bắc – vùng đất nổi tiếng với truyền thống Nho học hàng đầu cả nước. Bởi vậy, trong tác phẩm Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự có câu: “Vân Điềm đất của xương phiền/ Cha con sánh bước hoè hiên chen bầy”.

Hốt bạc nghĩa tình, thần trao đai ngọc

Theo lưu truyền dân gian, vào đầu thế kỷ XV, tại khu vực làng và cánh đồng Vân Điềm ngày nay đã hình thành bốn cụm dân cư gồm làng Nùi, xóm Vó Bè, làng Đóm và xóm Ba Điểm. Về sau, các cụm dân cư này tụ hội, hình thành một làng lớn với tên hành chính ban đầu là thôn Nội Điểm, thuộc xã Hà Lỗ, rồi đổi thành Vân Điềm và tách thành một xã độc lập.
Trong cơ cấu cư dân, chỉ có một dòng họ mang họ Lê, còn lại phần lớn là họ Nguyễn. Tiêu biểu trong số các dòng họ đến sớm là họ “Nguyễn Đại tôn”, vốn có nguồn gốc từ nhà Lý, thuộc nhánh của Lý Quang Bật và Lý Long Tường (cùng hàng với vua Lý Huệ Tông).
Sử chép, sau khi Trần Thủ Độ buộc Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, nhà Lý chấm dứt, nhà Trần lên thay. Hậu duệ hoàng tộc phải lưu tán hoặc đổi họ. Nhánh của Lý Hưng Tích (con vua Lý Thánh Tông) đổi sang họ Nguyễn, về sinh sống tại Vân Điềm (huyện Đông Ngàn), từ đó hình thành dòng họ Nguyễn tại địa phương.
Mang dòng dõi hoàng tộc, đến cuối thế kỷ XVI, con cháu họ Nguyễn ở Vân Điềm bắt đầu xuất hiện nhiều nhân tài khoa bảng, với 6 vị đỗ Tiến sĩ. Sách Đăng khoa lục sưu giảng của Thượng thư Trần Tiến (thời Lê trung hưng) ghi lại câu chuyện về một vị tổ họ Nguyễn (không rõ tên), nổi tiếng bởi đức độ và lòng nhân hậu.
Tuy có học nhưng gia cảnh nghèo, ông phải dạy học mưu sinh. Gặp năm mất mùa, ông cùng một số người lên vùng Hưng Hóa dạy học, làm thuê. Mỗi năm, họ đi từ đầu năm đến cuối năm mới trở về, mang theo chút tiền để trang trải nợ nần và lo Tết.
Một năm nọ, trên đường về, ông chỉ kiếm được một khoản tiền ít ỏi. Khi dừng chân ở quán nước ven đường, ông nghe một người đàn ông nghèo than khóc vì không trả được nợ, mẹ bị chủ nợ giam giữ. Trong tuyệt vọng, người này định tìm đến cái chết. Động lòng trắc ẩn, ông đã dùng toàn bộ số tiền mình có, khoảng 30 quan để giúp người kia chuộc mẹ.
Trở về trong cảnh tay trắng, ông chỉ nói với vợ rằng tiền đã tiêu vào việc thuốc thang. Người vợ không trách móc, mà chia sẻ đã đi làm thuê kiếm được ít gạo, đủ cho gia đình cầm cự qua Tết. Cả nhà đón năm mới trong cảnh đạm bạc nhưng ấm cúng.
Đêm ấy, người vợ mộng thấy một vị thần trao chiếc đai ngọc, dặn để dành cho con cháu. Sau Tết, ông tìm đến thăm người đã được giúp đỡ. Trên đường đi, ông gặp một thầy phong thủy, được chỉ cho thế đất quý hình “ngọc đới”. Khi tìm đến, ông mới biết chủ nhân mảnh đất chính là người từng chịu ơn mình.
Cảm kích, người này biếu ông khu đất để táng mộ tổ. Từ đó, dòng họ dần phát đạt. Con ông là Nguyễn Bảo nổi tiếng học giỏi, đến năm 1595 dự khoa thi và đỗ Đình nguyên. Nhà vua sau đó đổi tên ông thành Nguyễn Thực.
Bia đá bốn mặt do Tiến sĩ Phạm Công Trứ soạn, đặt tại nhà thờ Hoàng giáp Nguyễn Thực.


Một đời thanh liêm, nhiều đời hiển đạt

Theo các tài liệu đăng khoa, Nguyễn Thực (1555 - 1637), thuở nhỏ tên Nguyễn Bảo, thuộc đời thứ 5 dòng họ ở Vân Điềm. Ông nổi tiếng thông minh, dĩnh ngộ, học hành tiến bộ nên sớm được trọng dụng. Năm 1595, khi 41 tuổi, ông đỗ Đình nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Ất Mùi, đời Lê Thế Tông, mở đầu con đường quan lộ rộng mở với chức Hàn lâm viện Hiệu thảo.
Từ năm 1597 đến đầu thế kỷ XVII, ông liên tục được thăng chức: Lễ bộ Đô cấp sự trung, Kiểm sát sứ Thanh Hoa (1597); Bản sứ đề hình (1598); Hộ khoa Đô cấp sự trung, tước Khánh Xuyên nam (1599). Năm 1602, ông thăng Hồng lô tự khanh, tước Khánh Xuyên tử; năm 1604 giữ chức Lễ bộ Hữu Thị lang, tước Khánh Xuyên bá. Năm 1606, ông được cử đi sứ nhà Minh.
Sau đó, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách: Tả Thị lang bộ Lễ (1610), Thượng thư bộ Hình (1618), kiêm Hàn lâm viện Thị độc, Trưởng Hàn lâm viện sự (1619). Đến thời Lê Thần Tông, ông được phong Đông các Đại học sĩ; năm 1623 giữ hàm Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lễ. Năm 1625, ông được ban chức Dực vận tán trị công thần; năm 1627 thăng Thái phó, tước Lan Quận công.
Những năm cuối đời, ông tiếp tục được gia phong các chức vị cao như Thái úy (1630), Quốc lão (1632), Thái bảo; năm 1633 được phong Thượng trụ quốc. Năm 1634, ông chuyển sang giữ chức Thượng thư bộ Hộ, hàm Thái phó, rồi xin trí sĩ.
Dù đã nghỉ hưu, ông vẫn được triều đình trọng vọng, thường được tham vấn khi có việc lớn. Trong đời sống thường nhật, ông sống khiêm nhường, chan hòa, không phân biệt sang hèn, được nhân dân kính trọng. Ông cũng chú trọng đào tạo nhân tài, có đóng góp trong việc xây dựng văn chỉ cấp huyện tại thôn Cổ Châu.
Ông mất năm 1637, thọ 82 tuổi. Triều đình để tang 3 ngày, truy tặng chức Thái tể, ban thụy hiệu Trung Thuần. Ông được nhân dân làng Hương Mặc tôn làm Thành hoàng, còn làng Vân Điềm lập bia ghi công, thờ phụng. Sách Lịch triều hiến chương loại chí đánh giá ông là người “thuần hậu, trong sạch, cẩn trọng, không lập sản nghiệp; làm quan qua nhiều vị trí vinh hiển mà vẫn thanh bạch, có phong độ bậc danh thần”.
Con trai ông là Nguyễn Nghi (1588-1657), nổi tiếng nghiêm cẩn, học vấn uyên thâm. Năm 32 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1619) đời Lê Kính Tông. Năm 1630, ông được cử đi sứ nhà Minh. Trong sự nghiệp, ông từng giữ các chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, Lại bộ Thượng thư, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc Tử Giám Tế tửu, Thiếu phó, tước Dương Quận công; khi mất được truy tặng Thái phó.
Em trai Nguyễn Nghi là Nguyễn Phú cũng đỗ đạt, từng giữ các chức Viên ngoại lang bộ Hộ, Tham nghị, Tán lý đại thần, sau thăng Thượng thư bộ Lại, hàm Thái phó.
Nguyễn Nghi có 5 con trai đều thành đạt, gồm: Nguyễn Sủng (được phong Xuân Trường bá), Nguyễn Đậu, Nguyễn Hoành, Nguyễn Tào, Nguyễn Thái (đều được phong Hoằng tín đại phu). Trong đó, Nguyễn Sủng, tự Đạo Nguyên, là người tiêu biểu, được ghi nhận trong bia do Phạm Công Trứ soạn, với nhiều lời ca ngợi về đức độ và tài năng.
Lăng mộ Hoàng giáp, Tiến sĩ Nguyễn Thực.


Nối dài truyền thống khoa bảng

Cháu tằng tôn của Nguyễn Thực là Nguyễn Khuê, anh của Nguyễn Sĩ, cha của Nguyễn Thẩm, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) đời Lê Huyền Tông khi 33 tuổi. Ông từng giữ chức Khuyến nông sứ (1725), sau thăng đến Hình bộ Thị lang, rồi bị giáng xuống Thái bộc tự khanh, tước Diễn Phúc tử.
Con trai ông là Nguyễn Thẩm đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1706), từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như Hữu Thị lang bộ Lễ, Đốc đồng Sơn Tây, Hình khoa Đô cấp sự trung, Quốc Tử Giám Tế tửu. Con gái ông kết hôn với Quách Văn Giai (đỗ Thám hoa năm 1680), làm quan đến Hồng lô tự khanh.
Nguyễn Sĩ, em Nguyễn Khuê, cũng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1670) khi 26 tuổi, làm quan đến chức Giám sát. Ở đời sau, Nguyễn Thưởng đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Giáp Tuất (1754) đời Lê Hiển Tông, từng giữ các chức Hàn lâm viện Thị giảng, Binh bộ Hữu Thị lang, Đốc thị đạo Thuận Quảng, tước Khánh Xuyên hầu.
Một nhánh khác có Nguyễn Yến (1639-1679), cháu đời thứ tư của Nguyễn Thực, đỗ Tạo sĩ năm 30 tuổi. Sau khi đỗ đạt, ông được phong Đội trưởng xuất thân quản, Cơ sát quản tỉnh Sơn Tây, rồi Phán Dũng tướng quân, tước Hoằng Trí bá. Hậu duệ của ông tiếp tục kết nối với nhiều gia đình khoa bảng, danh giá.
Ngoài các vị đỗ đại khoa, dòng họ còn có nhiều người đỗ trung khoa, tiểu khoa và tham gia bộ máy quan lại qua các triều. Chẳng hạn, con cháu của Nguyễn Sủng ngoài hai người đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Khuê và Nguyễn Sĩ, những người còn lại cũng giữ các chức vụ như Hiển cung đại phu, Tri huyện, Đồng tri phủ, Chánh suất đội. Con gái trong họ kết hôn với Nguyễn Ngô Chung (đỗ Tiến sĩ năm 1676), làm Thượng thư bộ Hộ.
Nguyễn Thẩm có 4 con trai đều đỗ Cử nhân, giữ các chức vụ như Tán trị thừa chính sứ ty, Tri huyện Hiệp Hòa, Huấn đạo phủ Trường Khánh, Hiệu lực vệ… Con gái ông kết hôn với Nguyễn Lân, người cùng làng Vân Điềm.
Một chi của dòng họ chuyển cư đến Du Lâm, sinh ra Nguyễn Tư Giản (Hoàng giáp năm 1844), từng giữ chức Thượng thư bộ Lại, nổi tiếng về thơ văn và được vua Tự Đức trọng dụng. Con ông là Nguyễn Hữu Kham đỗ Tiến sĩ năm 1871, làm quan đến Tham biện, Hồng lô tự khanh.
Dù ở Vân Điềm hay Du Lâm, dòng họ Nguyễn Thực vẫn duy trì truyền thống hiếu học, liên tục sản sinh nhân tài cho đất nước. Tại nhà thờ họ ở Vân Điềm hiện còn lưu giữ nhiều câu đối ca ngợi truyền thống khoa bảng, như: “Công Khuê tướng ấn triều vinh ngộ/ Tử hiếu thần trung quốc giản như”; “Gia đình tố giảng thi thư lễ/ Tướng tướng liên đăng tổ phụ tôn”; “Nhụy bảng lưu phương triều Tiến sĩ/ Hoè hiên dự chính quốc danh thần”. Những câu đối này khắc họa hình ảnh một dòng họ nhiều đời hiển đạt, thanh bạch, trung quân ái quốc, giữ trọn đạo hiếu và đạo học.
Có thể nói, dòng họ Nguyễn Thực là một trong những dòng họ tiêu biểu của Kinh Bắc, không chỉ nổi bật bởi truyền thống khoa bảng mà còn là tấm gương về tinh thần hiếu học, góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng nhân tài qua nhiều thế hệ. Đến nay, truyền thống ấy vẫn được con cháu Vân Điềm gìn giữ và phát huy.
Làng Vân Điềm hiện còn bảo tồn nhiều di sản quý, như đình làng được xếp hạng di tích cấp quốc gia, nhà thờ Hoàng giáp Nguyễn Thực và Tiến sĩ Nguyễn Lân. Đặc biệt, văn chỉ của làng vẫn lưu giữ hai tấm bia lập năm 1674 - 1675, với bài văn bia do Phạm Công Trứ soạn, ca ngợi truyền thống khoa bảng lâu đời của địa phương.
Theo “Văn bia về gia tộc Nguyễn Thực làng Vân Điềm”: Trong nghề dạy học, danh tiếng của cụ ngày càng lan rộng. Học trò từ nhiều nơi tìm đến, mong được thầy chỉ dẫn tận tình. Dưới mái trường của cụ, ai cũng ước được thụ hưởng chút ‘hương thơm’ của đạo học. Bước chân vào cửa thầy là tìm được châu, hái được ngọc. Từ đây, có người làm đến chức Thừa ty Hiến sát, có người giữ cương vị Đô đốc Ngự sử; người đỗ Tam trường, người đỗ thi Hội, có người đỗ Giải nguyên – tất cả đều trưởng thành từ ngôi trường này. Học trò theo học cụ đều tiến bộ nhanh chóng, như cá vượt vũ môn, như diều gặp gió. Ai nấy đều mang trong lòng niềm hứng khởi, như chim bằng tung cánh, chim phượng múa lượn. Họ tìm đến giảng đường không chỉ để cầu vinh hiển, mà trước hết là để được sống trong niềm vui của cái văn, cái chữ.

Chia sẻ
hậu duệ nhà Lýmạch nguồn khoa bảng Vân Điềmvề miền đất họchậu duệ hoàng tộc nhà Lýdòng họ Nguyễngây dựng truyền thống hiếu họcsản sinh nhiều bậc khoa bảng
Theo Trần Siêu
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/06/29 06:06 (GMT+7)

Xem thêm Văn hóa

Mẹ ơi, con đã về rồi!
Văn hóa

Mẹ ơi, con đã về rồi!

'Mẹ ơi, con đã về rồi!' – Tiếng gọi vọng về từ phía bên kia chiến tranh
Văn hóa

'Mẹ ơi, con đã về rồi!' – Tiếng gọi vọng về từ phía bên kia chiến tranh

Bảy góc nhìn nghệ thuật trong một ‘Khoảng trời riêng’
Văn hóa

Bảy góc nhìn nghệ thuật trong một ‘Khoảng trời riêng’

Chùa Bà Nước Mặn: Dấu xưa thương cảng, mạch nguồn chữ Quốc ngữ
Văn hóa

Chùa Bà Nước Mặn: Dấu xưa thương cảng, mạch nguồn chữ Quốc ngữ

Người trẻ viết tiếp câu chuyện di sản bằng sáng tạo
Văn hóa

Người trẻ viết tiếp câu chuyện di sản bằng sáng tạo

Lộ diện hai đội vào chung kết Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026
Văn hóa

Lộ diện hai đội vào chung kết Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026

Mới nhất

2026-06-29 02:38

Thói quen đọc không thể hình thành bằng mệnh lệnh

GD&TĐ - Việc đọc sách hết sức quan trọng trong đời sống giáo dục, nhưng để giúp học sinh hứng thú, tự giác và đọc sách như một thói quen thường xuyên thì còn nhiều thử thách, đặc biệt trong bối cảnh đời sống chịu tác động mạnh của công nghệ hiện nay.

Thói quen đọc không thể hình thành bằng mệnh lệnh
2026-06-29 02:38

Chung kết sân chơi học thuật tranh biện học sinh toàn quốc

GD&TĐ - VSDC - Sự kiện đánh dấu màn hội tụ của những đội tranh biện xuất sắc nhất trên cả nước, cùng nhau chinh phục ngôi vị cao nhất mùa giải.

Chung kết sân chơi học thuật tranh biện học sinh toàn quốc
2026-06-29 02:37

Học sinh ‘chạm ngõ’ điện ảnh qua sân chơi lồng tiếng phim hoạt hình

GD&TĐ - Sân chơi Pathway Voice Talents 2026: “Voice The Soul” mùa 3 dành cho học sinh từ 7-14 tuổi trên toàn quốc chính thức khởi động.

Học sinh ‘chạm ngõ’ điện ảnh qua sân chơi lồng tiếng phim hoạt hình
2026-06-29 02:37

Nóng trong tuần: Hàng loạt chỉ đạo mới cho giáo dục trước năm học 2026-2027

GD&TĐ - Tuần qua, hoạt động giáo dục nổi bật với chỉ đạo chuẩn bị năm học mới, triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, thúc đẩy đào tạo STEM…

Nóng trong tuần: Hàng loạt chỉ đạo mới cho giáo dục trước năm học 2026-2027
2026-06-29 02:36

Nuôi dưỡng tình yêu tiếng Anh cho trẻ qua những câu chuyện kể

GD&TĐ - Những câu chuyện gần gũi với thế giới của trẻ, Stories Spark giúp trẻ lắng nghe, tương tác và thể hiện bản thân bằng tiếng Anh một cách tự nhiên.

Nuôi dưỡng tình yêu tiếng Anh cho trẻ qua những câu chuyện kể
2026-06-29 02:35

Sân chơi công nghệ kịch tính của sinh viên miền Trung - Tây Nguyên

GD&TĐ - Quy tụ 16 đội thi xuất sắc nhất tranh tài bằng loạt xe tự hành tích hợp AI, Vòng chung kết RoboCar 2026 mang đến những màn thi đấu hấp dẫn.

Sân chơi công nghệ kịch tính của sinh viên miền Trung - Tây Nguyên
2026-06-29 02:34

Học sinh Việt Nam xuất sắc rinh loạt giải thưởng Robotics khu vực

GD&TĐ - Đoàn học sinh Việt Nam vừa chính thức khép lại hành trình chinh phục ROBOG Asia Cup 2026 tại Hồng Kông với những thành tích đầy ấn tượng.

Học sinh Việt Nam xuất sắc rinh loạt giải thưởng Robotics khu vực
2026-06-29 02:33

Truyền cảm hứng học tập, nghiên cứu chuẩn Đức tại sự kiện VGU Master Info Day

GD&TĐ - Cựu học viên thạc sĩ tại VGU chia sẻ những lợi thế về kiến thức, kỹ năng, cơ hội nghề nghiệp khi tham gia chương trình đào tạo chuẩn Đức.

Truyền cảm hứng học tập, nghiên cứu chuẩn Đức tại sự kiện VGU Master Info Day
2026-06-29 02:33

Tăng cường giáo dục nghề nghiệp giúp học sinh, sinh viên vững tay nghề, sẵn sàng hội nhập

GD&TĐ - Trường Cao đẳng Xây dựng số 1 tập trung đẩy mạnh nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên.

Tăng cường giáo dục nghề nghiệp giúp học sinh, sinh viên vững tay nghề, sẵn sàng hội nhập
2026-06-29 02:32

Sẻ chia cùng phụ huynh ‘khởi đầu hạnh phúc cho hành trình lớn khôn’

GD&TĐ - Trường Tiểu học, THCS và THPT FPT Sóc Trăng tổ chức Hội thảo giáo dục đồng hành cùng con dành cho phụ huynh.

Sẻ chia cùng phụ huynh ‘khởi đầu hạnh phúc cho hành trình lớn khôn’