GD&TĐ - Vượt qua những áp lực thay đổi của thời cuộc, người dân thôn Khoái Nội (Hà Nội) vẫn miệt mài gìn giữ, sáng tạo để bảo tồn và phát triển nghề thêu gần 600 năm...
Tuyệt kỹ “vẽ tranh” bằng chỉ
Hơn 40 năm gắn bó với nghề thêu truyền thống, nghệ nhân Lê Văn Nguyên (thôn Khoái Nội, xã Chương Dương - trước đây là xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, TP Hà Nội) tự hào cho biết, nghề thêu nơi đây không chỉ được người dân gìn giữ mà còn không ngừng được kế thừa, phát triển, trở thành nét đẹp đặc trưng của địa phương, là sinh kế của nhiều thế hệ trong làng.
Vẫn miệt mài bên khung thêu, ông Nguyên chia sẻ, nghề thêu phổ biến từ thế kỷ 17, khi sứ thần Lê Công Hành (tên khai sinh là Bùi Công Hành) đi sứ phương Bắc trở về, truyền dạy nghề thêu cho người dân ở Quất Động, ngũ xã lân cận (trong đó có thôn Khoái Nội) và nghề thêu hình thành từ đó, được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Sản phẩm thêu tay của thôn Khoái Nội rất đa dạng, từ tranh phong cảnh quê hương, di tích lịch sử; tranh phong thủy như Tùng - Cúc - Trúc - Mai, vinh quy bái tổ, tranh chữ, khăn tay. Đặc biệt, thôn Khoái Nội còn ghi dấu ấn trên thị trường với dòng tranh thêu tả thực. Có những bức tranh mới thoạt đầu tưởng như được vẽ nên bởi chất liệu màu mỹ thuật thông thường như màu chì, sơn dầu,... nhưng khi nhìn kỹ sẽ nhận ra tất cả đều được tạo hình bởi những đường chỉ.
Để những bức tranh khắc họa được chân thật và có cảm giác sinh động đòi hỏi người thợ phải thực hiện thành thục những kỹ thuật thêu truyền thống như đâm xô, bó bạt, lướt vặn, thêu sa hạt đơn, sa hạt kép, đột thưa, đột mau và tùy theo từng họa tiết, người thợ có thể dùng chỉ đôi, chỉ chập ba, chập bốn để tạo được những đường nét thanh đậm như ý.
Tranh thêu Khoái Nội rất đa dạng, nhưng tinh xảo hơn cả là dòng tranh thêu hai mặt trên voan mỏng. Ảnh: Đỗ Sen.
Tinh xảo hơn cả là dòng tranh thêu hai mặt. Nghệ nhân Lê Văn Nguyên cho biết: “Một trăm người mới có vài người thêu được. Người thợ phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm mới làm nên tranh đạt chất lượng cao”.
Khung thêu tranh hai mặt được dựng đứng, người thợ thêu phải căn chỉnh sao cho mũi kim đi sau phải trùng vào vị trí mặt trước trên tấm voan mỏng, đồng thời lực tay phải đều nhau khi kéo kim thì mặt thêu mới căng, hình thêu mới phẳng đẹp. Khi kết thúc mũi kim, người thợ cần tỉ mỉ, khéo léo giấu chỉ ở giữa hai mặt để dù nhìn từ góc độ nào cũng không thấy chỉ thừa.
Mỗi đường kim không chỉ nối những sợi chỉ thành hình, mà còn giữ lại trong đó thời gian, sự nhẫn nại và tình cảm của người thợ dành cho nghề. Có những chi tiết tưởng chừng rất đơn giản nhưng chỉ cần một mũi kim đi sai, người thợ cũng phải rút chỉ đi lại, thậm chí phải bỏ cả bức tranh.
Thời gian hoàn thiện một bức tranh hai mặt thường gấp hai đến ba lần tranh thêu thông thường. Bởi vậy, chỉ những người cầm kim mới cảm nhận được hết giá trị và niềm vui khi tác phẩm được hoàn thành.
Người và nghề giữa những đổi thay
Thời hưng thịnh, sản phẩm thêu Khoái Nội nổi tiếng khắp cả nước. Nhiều sản phẩm được xuất khẩu qua các thị trường lớn như Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản,... và nhận được sự yêu thích của bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, một nghề đòi hỏi nhiều năm rèn giũa hiện vẫn phải gồng mình cạnh tranh với những công việc mang lại thu nhập tức thời. Giữa nhịp sống hối hả, ít người đủ sự kiên trì và nhẫn nại để gắn bó lâu dài với nghề. Cũng có nhiều người từ gắn bó toàn thời gian với nghề nay đã chuyển sang làm bán thời gian, hoặc tìm việc tại các cụm công nghiệp, trung tâm thành phố để có được thu nhập đều hơn.
Để hoàn thiện một tác phẩm, người thợ có thể mất hàng tháng, thậm chí hàng năm nên giá thành sản phẩm tương đối cao. Dù công chúng công nhận giá trị nghệ thuật của hàng thủ công, nhưng hạn chế về khả năng chi trả và nhu cầu sử dụng khiến cho tranh thêu khó tiếp cận.
Trong khi đó, sự phổ biến của các mặt hàng thời trang giá rẻ càng đặt sản phẩm thủ công vào thế khó. Một bộ phận người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm có giá thành thấp để mặc ngắn hạn hoặc chụp ảnh cũng khiến các sản phẩm thêu tay trở thành lựa chọn kén người dùng.
Ông Nguyên nhận định, muốn giữ nghề phải giữ được lý do người thợ chọn ở lại. Nếu chỉ có sự yêu thích thì không đủ sức níu chân mà phải tìm cách biến niềm đam mê thành công việc đủ sức nuôi sống người làm ra nó.
Không bó hẹp trong lối mòn, bên cạnh những dòng tranh truyền thống, ông Nguyên ứng dụng kỹ thuật thêu để sáng tạo nên các dòng sản phẩm gần gũi, dễ sử dụng trong đời sống. Những họa tiết mang đậm bản sắc dân tộc như hoa sen, Tháp Rùa, Chùa Một Cột, cô gái Việt Nam được nghệ nhân chọn lựa xuất hiện sinh động trên những chiếc nón, phụ kiện kẹp tóc, áo, đồ lưu niệm… Những sản phẩm này vừa tô điểm thêm cho trang phục, vừa giúp có thêm nguồn thu ổn định cho người lao động.
Bên cạnh đó, công nghệ cũng là trợ thủ đắc lực trong khâu quảng bá tiếp thị và tối ưu những công đoạn đơn giản, trong khi người thợ vẫn đóng vai trò chủ đạo thực hiện tác phẩm để giữ được giá trị riêng cho dòng tranh thêu tay.
Nghệ thuật thêu ngày càng được ứng dụng linh hoạt trên nhiều sản phẩm, phụ kiện để phù hợp với nhiều nhu cầu và thị hiếu. Ảnh: Đỗ Sen.
Giữ nghề không phải là cất nó vào một chiếc hộp rồi chờ người đời đến hoài niệm, mà phải tìm cách để sản phẩm tiếp cận gần hơn với thị trường và xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm, bán hàng trực tuyến hay gắn nghề thêu với trải nghiệm du lịch cũng được chính quyền địa phương tích cực đẩy mạnh để thu hút khách tham quan và tăng giá trị chuyển đổi.
Nhưng để nghề có thể tiếp tục tồn tại, điều quan trọng là cần có những lớp thế hệ sẵn sàng học nghề và tiếp nối những giá trị xưa. Việc truyền nghề không chỉ dừng ở chuyện dạy kỹ thuật mà cần tạo ra một môi trường để người trẻ nhìn thấy cơ hội từ chính nghề truyền thống của quê hương. Từ đó, người trẻ sẽ có thêm động lực gắn bó, có được sự ủng hộ để mạnh dạn đổi mới, ứng dụng thêu truyền thống trong thời trang, quảng bá trên nền tảng số và tìm kiếm những cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu hiện nay.
Tuyệt kỹ “vẽ tranh” bằng chỉ
Hơn 40 năm gắn bó với nghề thêu truyền thống, nghệ nhân Lê Văn Nguyên (thôn Khoái Nội, xã Chương Dương - trước đây là xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, TP Hà Nội) tự hào cho biết, nghề thêu nơi đây không chỉ được người dân gìn giữ mà còn không ngừng được kế thừa, phát triển, trở thành nét đẹp đặc trưng của địa phương, là sinh kế của nhiều thế hệ trong làng.
Nghệ nhân Lê Văn Nguyên đã dành hơn 40 năm gắn bó và phát triển nghề thêu truyền thống tại Khoái Nội. Ảnh: Đỗ Sen.
Vẫn miệt mài bên khung thêu, ông Nguyên chia sẻ, nghề thêu phổ biến từ thế kỷ 17, khi sứ thần Lê Công Hành (tên khai sinh là Bùi Công Hành) đi sứ phương Bắc trở về, truyền dạy nghề thêu cho người dân ở Quất Động, ngũ xã lân cận (trong đó có thôn Khoái Nội) và nghề thêu hình thành từ đó, được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Sản phẩm thêu tay của thôn Khoái Nội rất đa dạng, từ tranh phong cảnh quê hương, di tích lịch sử; tranh phong thủy như Tùng - Cúc - Trúc - Mai, vinh quy bái tổ, tranh chữ, khăn tay. Đặc biệt, thôn Khoái Nội còn ghi dấu ấn trên thị trường với dòng tranh thêu tả thực. Có những bức tranh mới thoạt đầu tưởng như được vẽ nên bởi chất liệu màu mỹ thuật thông thường như màu chì, sơn dầu,... nhưng khi nhìn kỹ sẽ nhận ra tất cả đều được tạo hình bởi những đường chỉ.
Để những bức tranh khắc họa được chân thật và có cảm giác sinh động đòi hỏi người thợ phải thực hiện thành thục những kỹ thuật thêu truyền thống như đâm xô, bó bạt, lướt vặn, thêu sa hạt đơn, sa hạt kép, đột thưa, đột mau và tùy theo từng họa tiết, người thợ có thể dùng chỉ đôi, chỉ chập ba, chập bốn để tạo được những đường nét thanh đậm như ý.
Tranh thêu Khoái Nội rất đa dạng, nhưng tinh xảo hơn cả là dòng tranh thêu hai mặt trên voan mỏng. Ảnh: Đỗ Sen.
Tinh xảo hơn cả là dòng tranh thêu hai mặt. Nghệ nhân Lê Văn Nguyên cho biết: “Một trăm người mới có vài người thêu được. Người thợ phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm mới làm nên tranh đạt chất lượng cao”.
Khung thêu tranh hai mặt được dựng đứng, người thợ thêu phải căn chỉnh sao cho mũi kim đi sau phải trùng vào vị trí mặt trước trên tấm voan mỏng, đồng thời lực tay phải đều nhau khi kéo kim thì mặt thêu mới căng, hình thêu mới phẳng đẹp. Khi kết thúc mũi kim, người thợ cần tỉ mỉ, khéo léo giấu chỉ ở giữa hai mặt để dù nhìn từ góc độ nào cũng không thấy chỉ thừa.
Mỗi đường kim không chỉ nối những sợi chỉ thành hình, mà còn giữ lại trong đó thời gian, sự nhẫn nại và tình cảm của người thợ dành cho nghề. Có những chi tiết tưởng chừng rất đơn giản nhưng chỉ cần một mũi kim đi sai, người thợ cũng phải rút chỉ đi lại, thậm chí phải bỏ cả bức tranh.
Thời gian hoàn thiện một bức tranh hai mặt thường gấp hai đến ba lần tranh thêu thông thường. Bởi vậy, chỉ những người cầm kim mới cảm nhận được hết giá trị và niềm vui khi tác phẩm được hoàn thành.
Người và nghề giữa những đổi thay
Thời hưng thịnh, sản phẩm thêu Khoái Nội nổi tiếng khắp cả nước. Nhiều sản phẩm được xuất khẩu qua các thị trường lớn như Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản,... và nhận được sự yêu thích của bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, một nghề đòi hỏi nhiều năm rèn giũa hiện vẫn phải gồng mình cạnh tranh với những công việc mang lại thu nhập tức thời. Giữa nhịp sống hối hả, ít người đủ sự kiên trì và nhẫn nại để gắn bó lâu dài với nghề. Cũng có nhiều người từ gắn bó toàn thời gian với nghề nay đã chuyển sang làm bán thời gian, hoặc tìm việc tại các cụm công nghiệp, trung tâm thành phố để có được thu nhập đều hơn.
Để hoàn thiện một tác phẩm, người thợ có thể mất hàng tháng, thậm chí hàng năm nên giá thành sản phẩm tương đối cao. Dù công chúng công nhận giá trị nghệ thuật của hàng thủ công, nhưng hạn chế về khả năng chi trả và nhu cầu sử dụng khiến cho tranh thêu khó tiếp cận.
Trong khi đó, sự phổ biến của các mặt hàng thời trang giá rẻ càng đặt sản phẩm thủ công vào thế khó. Một bộ phận người tiêu dùng ưu tiên sản phẩm có giá thành thấp để mặc ngắn hạn hoặc chụp ảnh cũng khiến các sản phẩm thêu tay trở thành lựa chọn kén người dùng.
Ông Nguyên nhận định, muốn giữ nghề phải giữ được lý do người thợ chọn ở lại. Nếu chỉ có sự yêu thích thì không đủ sức níu chân mà phải tìm cách biến niềm đam mê thành công việc đủ sức nuôi sống người làm ra nó.
Không bó hẹp trong lối mòn, bên cạnh những dòng tranh truyền thống, ông Nguyên ứng dụng kỹ thuật thêu để sáng tạo nên các dòng sản phẩm gần gũi, dễ sử dụng trong đời sống. Những họa tiết mang đậm bản sắc dân tộc như hoa sen, Tháp Rùa, Chùa Một Cột, cô gái Việt Nam được nghệ nhân chọn lựa xuất hiện sinh động trên những chiếc nón, phụ kiện kẹp tóc, áo, đồ lưu niệm… Những sản phẩm này vừa tô điểm thêm cho trang phục, vừa giúp có thêm nguồn thu ổn định cho người lao động.
Bên cạnh đó, công nghệ cũng là trợ thủ đắc lực trong khâu quảng bá tiếp thị và tối ưu những công đoạn đơn giản, trong khi người thợ vẫn đóng vai trò chủ đạo thực hiện tác phẩm để giữ được giá trị riêng cho dòng tranh thêu tay.
Nghệ thuật thêu ngày càng được ứng dụng linh hoạt trên nhiều sản phẩm, phụ kiện để phù hợp với nhiều nhu cầu và thị hiếu. Ảnh: Đỗ Sen.
Giữ nghề không phải là cất nó vào một chiếc hộp rồi chờ người đời đến hoài niệm, mà phải tìm cách để sản phẩm tiếp cận gần hơn với thị trường và xu hướng tiêu dùng hiện đại.
Các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm, bán hàng trực tuyến hay gắn nghề thêu với trải nghiệm du lịch cũng được chính quyền địa phương tích cực đẩy mạnh để thu hút khách tham quan và tăng giá trị chuyển đổi.
Nhưng để nghề có thể tiếp tục tồn tại, điều quan trọng là cần có những lớp thế hệ sẵn sàng học nghề và tiếp nối những giá trị xưa. Việc truyền nghề không chỉ dừng ở chuyện dạy kỹ thuật mà cần tạo ra một môi trường để người trẻ nhìn thấy cơ hội từ chính nghề truyền thống của quê hương. Từ đó, người trẻ sẽ có thêm động lực gắn bó, có được sự ủng hộ để mạnh dạn đổi mới, ứng dụng thêu truyền thống trong thời trang, quảng bá trên nền tảng số và tìm kiếm những cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu hiện nay.
Ứng dụng thực tế ảo và AI trong đào tạo nhân lực năng lượng
GD&TĐ - Trung tâm đào tạo công nghệ - ứng dụng thực tế ảo và trí tuệ nhân tạo trong năng lượng, góp phần đổi mới giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo.
2026-10-11 07:26
Đồng hành cùng trò tìm hiểu nghề nghiệp trong thời đại công nghệ số
GD&TĐ - Cùng trò nhận diện, phân tích và định hướng nghề nghiệp trong thời đại AI là hoạt động hướng nghiệp thiết thực.
2026-10-11 07:25
Gần 1.000 cán bộ, giáo viên Đà Nẵng 'bắt nhịp' kỷ nguyên số và quản trị AI
GD&TĐ - Gần 1.000 giáo viên Đà Nẵng tham gia trải nghiệm AI, dữ liệu số phục vụ quản trị và giảng dạy tại Ngày hội Chuyển đổi số ngành GD&ĐT.
2026-10-11 07:25
Khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh
GD&TĐ - Thực tế cho thấy, khi thầy cô đổi mới phương pháp dạy học sẽ góp phần khơi dậy tư duy và phát triển năng lực số cho học sinh.
2026-10-11 07:25
Đưa AI vào giải quyết công việc hành chính ở cấp xã
GD&TĐ - 200 cán bộ, công chức xã Bình Minh (Quảng Ngãi) được tập huấn kỹ năng ứng dụng AI nhằm nâng cao hiệu quả xử lý công việc hành chính.
2026-10-11 07:24
Trường Cao đẳng Kiên Giang nâng chất đào tạo trong năm học mới
GD&TĐ - Ngày 10/10, Trường Cao đẳng Kiên Giang (KGC) tổ chức Lễ khai giảng các khóa chính quy năm học 2026 - 2027, với nhiều kỳ vọng và quyết tâm.
2026-10-11 07:24
4 phòng thí nghiệm AI của Việt Nam và Hàn Quốc hợp tác nghiên cứu liên ngành
GD&TĐ - 4 phòng lab về AI sẽ cùng thúc đẩy nghiên cứu liên ngành, phối hợp chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, cử và tiếp nhận sinh viên thực tập.
2026-10-11 07:24
41 sinh viên Đà Nẵng vượt khó nhận bằng Tốt nghiệp ngành Công nghệ thông tin
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Đà Nẵng trao bằng tốt nghiệp cho 41 sinh viên Công nghệ thông tin khóa 2023–2026 thuộc chương trình hợp tác với Tổ chức PNV.
2026-10-11 07:23
Giáo dục năng lượng sạch: Gắn kiến thức với thực tiễn
GD&TĐ - Giáo dục năng lượng sạch, năng lượng tái tạo cần vượt ra ngoài việc cung cấp kiến thức, hướng tới hình thành thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm.
2026-10-11 07:23
ĐH Kinh tế Quốc dân trao bằng thạc sĩ cho hơn 900 học viên
GD&TĐ - Tấm bằng thạc sĩ là minh chứng cho nghị lực và sự kiên trì, đồng thời cũng mở ra hành trình mới đầy cơ hội và thách thức.