Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: LK05 HDI Home, 201 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Phạm Thị Thu Thảo

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Giải mã đại dương bằng trí tuệ nhân tạo

2025/10/20 10:39

GD&TĐ - Việt Nam sở hữu hơn 3 triệu km² vùng biển và hải đảo, đa dạng sinh học nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá.


Từ ý tưởng xây dựng “ngân hàng dữ liệu biển số hóa” cho Việt Nam, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra cánh cửa mới để bảo tồn và khai thác đại dương một cách bền vững. Đây không chỉ là câu chuyện về công nghệ, mà còn là hành trình của tầm nhìn và trách nhiệm trong việc gìn giữ kho báu xanh.
“Con mắt” dưới đáy đại dương
Việt Nam sở hữu hơn 3 triệu km² vùng biển và hải đảo, đa dạng sinh học nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá. Để hiểu, quản lý và bảo tồn kho tàng thiên nhiên này, các nhà khoa học đang hướng đến trí tuệ nhân tạo (AI) như một công cụ quan trọng.
Nhờ khả năng xử lý dữ liệu khổng lồ và phân tích thông minh, AI giúp theo dõi biến động sinh vật biển, đánh giá tình trạng các hệ sinh thái và dự báo tác động của biến đổi khí hậu, mở ra cơ hội khai thác và bảo tồn đại dương một cách bền vững.
Ông Đinh Xuân Lập, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS, thuộc Hội Thủy sản Việt Nam), chia sẻ: “Trong vài năm qua, công nghệ AI đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực, nhưng trong lĩnh vực biển và hải đảo thì vẫn còn mới. Chúng ta mới dừng ở mức nghiên cứu, theo dõi đánh giá trữ lượng khai thác thủy sản và giám sát các loài quý hiếm, chứ chưa có sản phẩm ứng dụng vào thực tế”.
Ông Đinh Xuân Lập, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS, thuộc Hội Thủy sản Việt Nam).

Nhìn ra thế giới, các quốc gia có nền khoa học biển phát triển như Nhật Bản, Hà Lan hay Mỹ đã sớm đưa trí tuệ nhân tạo xuống tận đáy đại dương, nơi con người khó tiếp cận nhưng lại ẩn chứa vô vàn dữ liệu quý giá.
Tại Nhật Bản, AI được sử dụng để theo dõi đường di cư của đàn cá, giúp các nhà quản lý thủy sản điều chỉnh mùa vụ khai thác một cách linh hoạt, vừa đảm bảo sản lượng, vừa duy trì cân bằng sinh thái.
Ở Hà Lan, quốc gia nổi tiếng với công nghệ biển sâu, trí tuệ nhân tạo lại được khai thác theo hướng phục hồi hệ sinh thái, điển hình là dự án rạn san hô nhân tạo. AI giúp mô phỏng cấu trúc san hô tự nhiên, dự báo khả năng thích nghi của sinh vật biển và giám sát tiến trình phục hồi sau khi cấy ghép.
Còn tại Mỹ, hệ thống OceanMind, được mệnh danh là “bộ não của đại dương” cho phép phân tích dữ liệu vệ tinh theo thời gian thực để phát hiện hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Nhờ đó, các cơ quan quản lý có thể can thiệp kịp thời, bảo vệ nguồn lợi thủy sản toàn cầu.
Từ những kinh nghiệm quốc tế đó, các chuyên gia đánh giá, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển mô hình riêng, dựa trên đặc thù địa lý, hệ sinh thái và nguồn dữ liệu trong nước. Có thể thấy, AI không chỉ giúp “nhìn thấy” đại dương, mà còn giúp “hiểu” đại dương.
Các hình ảnh vệ tinh kết hợp với cảm biến âm thanh cho phép theo dõi, phân tích biến đổi môi trường nhanh và chính xác hơn bao giờ hết. Dữ liệu này, khi được xử lý qua các thuật toán mô hình hóa, có thể dự báo tác động của khí hậu, môi trường biển tới đa dạng sinh học và thậm chí đề xuất các phương án ứng phó, giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Một số ứng dụng cụ thể đã được đề xuất: Gắn chip cảm biến do AI quản lý lên các loài động vật quý hiếm để theo dõi hành trình di chuyển, sinh sản, biến đổi môi trường sống; giám sát hải lưu, dòng chảy lớn, hạn chế va chạm giữa tàu thuyền và cá voi; hay xây dựng bản đồ nguy cơ khai thác trái phép phục vụ quản lý vùng biển.
Theo TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Môi trường biển và Hải đảo, AI đang mở ra cánh cửa mới cho công tác bảo tồn: “Trí tuệ nhân tạo có khả năng xử lý lượng dữ liệu khổng lồ với tốc độ và độ chính xác cao. Khi kết hợp cùng các phương pháp bảo tồn truyền thống, chúng ta không chỉ gia tăng hiệu quả, mà còn mở ra cơ hội để cộng đồng tham gia sâu hơn vào bảo tồn đa dạng sinh học biển. Trong tương lai, AI có thể trở thành ‘ngọn hải đăng’ dẫn đường cho toàn bộ công tác nghiên cứu và bảo tồn sinh học biển trên thế giới”.
Theo ông Đinh Xuân Lập, Việt Nam có thể bắt đầu với ba hướng ưu tiên rõ ràng. “Thứ nhất, ứng dụng AI trong giám sát trữ lượng và biến động loài thủy sản, đặc biệt quan trọng khi Việt Nam chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu.
Thứ hai, giám sát và đánh giá loài quý hiếm, nhất là động vật có vú ở biển, một chủ đề quốc tế đang rất được quan tâm. Và thứ ba, theo dõi, giám sát hệ sinh thái san hô, cỏ biển, rong biển. Đây là những ‘hệ nền’ quan trọng phục vụ cho công tác bảo tồn và phục hồi sinh thái biển”, ông Lập nhấn mạnh.
Ngư dân cập cảng cá Hòn Rớ (Khánh Hòa) - điểm đầu tiên lắp màn hình ở cảng để kiểm soát hoạt động xuất nhập bến. Ảnh: Xuân Hoát

Dữ liệu là “nhiên liệu” cho trí tuệ nhân tạo
Không có dữ liệu, AI chỉ là “chiếc vỏ rỗng”. Thế nhưng để có dữ liệu biển chất lượng, các chuyên gia đánh giá, Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Việt Nam có gần 12.000 loài sinh vật biển được ghi nhận, nhưng dữ liệu sinh học cụ thể về từng loài thì chưa đầy đủ. Một số báo cáo đã quá cũ, từ 10 - 20 năm trước. Đây là thách thức lớn vì điều tra sinh học biển rất tốn kém. Trong khi đó, các đối tác quốc tế đã đi xa hơn nhiều.
“Chúng tôi từng làm việc với Mỹ và Nhật Bản. Nước bạn có cơ sở dữ liệu đại dương cực kỳ chi tiết, từ dòng chảy, nhiệt độ, cho tới bản đồ phân tầng. Nhật Bản còn tích hợp AI để đo hấp thụ carbon của rong, tảo biển, phục vụ đánh giá tín chỉ carbon. Việt Nam muốn làm được như vậy phải có ngân hàng dữ liệu tốt, cập nhật thường xuyên và liên tục”, ông Đinh Xuân Lập khẳng định.
Ý tưởng về “ngân hàng dữ liệu biển số hóa” vì thế được xem là nền móng quan trọng cho tương lai không chỉ phục vụ bảo tồn, mà còn cho kinh tế xanh và tín chỉ carbon. Điểm đáng chú ý là cách ông Lập nhìn nhận vai trò của cộng đồng ngư dân như những người “giữ dữ liệu sống”.
Theo ông, ngư dân là kho tri thức bản địa vô giá. Họ biết vùng nào có loài gì, mùa nào cá về, nước đổi dòng ra sao. Nếu kết hợp AI với tri thức bản địa, chúng ta sẽ vừa bảo tồn hiệu quả, vừa giúp sinh kế người dân bền vững hơn.
Ông Lập kể, trong một dự án bảo tồn ở khu đất ngập nước Láng Sen (nay là khu Ramsar), phương pháp chủ yếu là “dựa vào tri thức bản địa”. Khi đó chưa có AI nên việc xác định loài rất khó.
“Bây giờ nếu có AI, chỉ cần dựa trên ký ức của ngư dân, hình ảnh, âm thanh hay tọa độ, phần mềm có thể phác họa lại hệ sinh thái sống của loài, giúp lập kế hoạch bảo tồn nhanh và chính xác hơn”, chuyên gia lập luận.
Cách tiếp cận “AI cộng đồng” này cũng phù hợp với xu thế thế giới, nơi dữ liệu không chỉ đến từ phòng thí nghiệm, mà từ người dân, tàu cá, camera bờ biển, thiết bị bay, phao cảm biến… tạo nên “mạng lưới đại dương thông minh”.
Trong ngành thủy sản, phần lớn tàu xa bờ của Việt Nam đã có hệ thống giám sát hành trình (VMS). Đây là nền tảng để nâng cấp lên các mô hình khai thác thông minh. Vì vậy, nếu tích hợp dữ liệu thời gian thực: Dòng chảy, chuỗi thức ăn, đường di chuyển của đàn cá nổi… thì AI có thể dự báo ngư trường rất chính xác, giúp ngư dân giảm chi phí nhiên liệu, tăng hiệu quả mà vẫn bền vững.
Bên cạnh đó, AI cũng có thể đóng vai trò như “bộ cảm biến khí hậu”: Theo dõi nhiệt độ nước, độ mặn, mức ô nhiễm hay tảo nở hoa, từ đó cảnh báo sớm những vùng biển có nguy cơ suy thoái.
“Nếu có dữ liệu tốt kết hợp AI, chúng ta có thể xác định hệ sinh thái nào đang suy thoái, ngư trường nào cạn kiệt, từ đó quản lý nghề cá dựa trên hệ sinh thái. Đây là hướng đi rất cần thiết khi Việt Nam đang thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030”, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững đánh giá.
Biên phòng, kiểm ngư tuyên truyền về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp cho ngư dân. Ảnh: Xuân Hoát

Nền tảng khai thác kinh tế
AI không chỉ hỗ trợ bảo tồn, mà còn mở ra những hướng khai thác mới cho kinh tế biển Việt Nam, nơi nhiều tiềm năng vẫn chưa được khai thác hết. Theo ông Đinh Xuân Lập, công nghệ này có thể giúp nuôi trồng và khai thác thủy sản thông minh, tối ưu thức ăn, dự báo dịch bệnh và giảm chi phí.
Ngoài ra, AI còn hỗ trợ dự báo ngư trường, phục vụ quy hoạch khai thác bền vững; đánh giá tín chỉ carbon từ rong, tảo và rừng ngập mặn; cũng như hướng dẫn du lịch sinh thái biển bằng cách nhận diện sinh cảnh và dự báo thời tiết, đảm bảo trải nghiệm an toàn cho du khách. Thậm chí, AI còn góp phần đánh giá tiềm năng năng lượng tái tạo từ gió, sóng và thủy triều, trở thành trụ cột trong chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh của Việt Nam.
“Chúng ta chưa khai thác hiệu quả nguồn năng lượng biển vì thiếu dữ liệu. Nếu có dữ liệu đủ lớn, AI sẽ cho thấy hướng khai thác tối ưu và giảm thiểu rủi ro thời tiết”, ông Đinh Xuân Lập nhấn mạnh.
Tuy công nghệ là điều kiện cần, nhưng các chuyên gia cho rằng, con người và chính sách mới là điều kiện đủ. Việt Nam hiện đang thiếu nhân lực chuyên ngành giao thoa giữa AI và hải dương học, một lĩnh vực đòi hỏi vừa am hiểu biển, vừa tinh thông công nghệ.
Vì vậy, các chuyên gia đề xuất cần sớm xây dựng chương trình quốc gia “Đại dương thông minh” kết nối các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương ven biển; đào tạo nhân lực về AI và dữ liệu biển tại các trường đại học công nghệ và hải dương học; tạo hành lang pháp lý cho việc chia sẻ và thương mại hóa dữ liệu biển; đồng thời khuyến khích hợp tác quốc tế và công tư trong nghiên cứu, phát triển công nghệ biển.
TS Dư Văn Toán khẳng định: “AI không chỉ là công cụ giám sát, mà là nền tảng cho phát triển kinh tế đại dương xanh. Khi dữ liệu biển trở thành tài sản quốc gia, chúng ta mới thực sự bước vào kỷ nguyên kinh tế biển bền vững. Khi trí tuệ nhân tạo chạm đến đại dương, đó không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà là câu chuyện của con người học cách sống hài hòa với biển để biển còn xanh cho thế hệ sau”.

Việt Nam sở hữu vùng biển và hải đảo với đa dạng sinh học phong phú nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá. Ảnh: INT

Từ ý tưởng xây dựng “ngân hàng dữ liệu biển số hóa” cho Việt Nam, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra cánh cửa mới để bảo tồn và khai thác đại dương một cách bền vững. Đây không chỉ là câu chuyện về công nghệ, mà còn là hành trình của tầm nhìn và trách nhiệm trong việc gìn giữ kho báu xanh.
“Con mắt” dưới đáy đại dương
Việt Nam sở hữu hơn 3 triệu km² vùng biển và hải đảo, đa dạng sinh học nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá. Để hiểu, quản lý và bảo tồn kho tàng thiên nhiên này, các nhà khoa học đang hướng đến trí tuệ nhân tạo (AI) như một công cụ quan trọng.
Nhờ khả năng xử lý dữ liệu khổng lồ và phân tích thông minh, AI giúp theo dõi biến động sinh vật biển, đánh giá tình trạng các hệ sinh thái và dự báo tác động của biến đổi khí hậu, mở ra cơ hội khai thác và bảo tồn đại dương một cách bền vững.
Ông Đinh Xuân Lập, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS, thuộc Hội Thủy sản Việt Nam), chia sẻ: “Trong vài năm qua, công nghệ AI đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực, nhưng trong lĩnh vực biển và hải đảo thì vẫn còn mới. Chúng ta mới dừng ở mức nghiên cứu, theo dõi đánh giá trữ lượng khai thác thủy sản và giám sát các loài quý hiếm, chứ chưa có sản phẩm ứng dụng vào thực tế”.
Ông Đinh Xuân Lập, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững (ICAFIS, thuộc Hội Thủy sản Việt Nam).

Nhìn ra thế giới, các quốc gia có nền khoa học biển phát triển như Nhật Bản, Hà Lan hay Mỹ đã sớm đưa trí tuệ nhân tạo xuống tận đáy đại dương, nơi con người khó tiếp cận nhưng lại ẩn chứa vô vàn dữ liệu quý giá.
Tại Nhật Bản, AI được sử dụng để theo dõi đường di cư của đàn cá, giúp các nhà quản lý thủy sản điều chỉnh mùa vụ khai thác một cách linh hoạt, vừa đảm bảo sản lượng, vừa duy trì cân bằng sinh thái.
Ở Hà Lan, quốc gia nổi tiếng với công nghệ biển sâu, trí tuệ nhân tạo lại được khai thác theo hướng phục hồi hệ sinh thái, điển hình là dự án rạn san hô nhân tạo. AI giúp mô phỏng cấu trúc san hô tự nhiên, dự báo khả năng thích nghi của sinh vật biển và giám sát tiến trình phục hồi sau khi cấy ghép.
Còn tại Mỹ, hệ thống OceanMind, được mệnh danh là “bộ não của đại dương” cho phép phân tích dữ liệu vệ tinh theo thời gian thực để phát hiện hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Nhờ đó, các cơ quan quản lý có thể can thiệp kịp thời, bảo vệ nguồn lợi thủy sản toàn cầu.
Từ những kinh nghiệm quốc tế đó, các chuyên gia đánh giá, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển mô hình riêng, dựa trên đặc thù địa lý, hệ sinh thái và nguồn dữ liệu trong nước. Có thể thấy, AI không chỉ giúp “nhìn thấy” đại dương, mà còn giúp “hiểu” đại dương.
Các hình ảnh vệ tinh kết hợp với cảm biến âm thanh cho phép theo dõi, phân tích biến đổi môi trường nhanh và chính xác hơn bao giờ hết. Dữ liệu này, khi được xử lý qua các thuật toán mô hình hóa, có thể dự báo tác động của khí hậu, môi trường biển tới đa dạng sinh học và thậm chí đề xuất các phương án ứng phó, giảm thiểu rủi ro thiên tai.
Một số ứng dụng cụ thể đã được đề xuất: Gắn chip cảm biến do AI quản lý lên các loài động vật quý hiếm để theo dõi hành trình di chuyển, sinh sản, biến đổi môi trường sống; giám sát hải lưu, dòng chảy lớn, hạn chế va chạm giữa tàu thuyền và cá voi; hay xây dựng bản đồ nguy cơ khai thác trái phép phục vụ quản lý vùng biển.
Theo TS Dư Văn Toán, Viện Khoa học Môi trường biển và Hải đảo, AI đang mở ra cánh cửa mới cho công tác bảo tồn: “Trí tuệ nhân tạo có khả năng xử lý lượng dữ liệu khổng lồ với tốc độ và độ chính xác cao. Khi kết hợp cùng các phương pháp bảo tồn truyền thống, chúng ta không chỉ gia tăng hiệu quả, mà còn mở ra cơ hội để cộng đồng tham gia sâu hơn vào bảo tồn đa dạng sinh học biển. Trong tương lai, AI có thể trở thành ‘ngọn hải đăng’ dẫn đường cho toàn bộ công tác nghiên cứu và bảo tồn sinh học biển trên thế giới”.
Theo ông Đinh Xuân Lập, Việt Nam có thể bắt đầu với ba hướng ưu tiên rõ ràng. “Thứ nhất, ứng dụng AI trong giám sát trữ lượng và biến động loài thủy sản, đặc biệt quan trọng khi Việt Nam chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu.
Thứ hai, giám sát và đánh giá loài quý hiếm, nhất là động vật có vú ở biển, một chủ đề quốc tế đang rất được quan tâm. Và thứ ba, theo dõi, giám sát hệ sinh thái san hô, cỏ biển, rong biển. Đây là những ‘hệ nền’ quan trọng phục vụ cho công tác bảo tồn và phục hồi sinh thái biển”, ông Lập nhấn mạnh.
Ngư dân cập cảng cá Hòn Rớ (Khánh Hòa) - điểm đầu tiên lắp màn hình ở cảng để kiểm soát hoạt động xuất nhập bến. Ảnh: Xuân Hoát

Dữ liệu là “nhiên liệu” cho trí tuệ nhân tạo
Không có dữ liệu, AI chỉ là “chiếc vỏ rỗng”. Thế nhưng để có dữ liệu biển chất lượng, các chuyên gia đánh giá, Việt Nam vẫn còn nhiều khoảng trống. Việt Nam có gần 12.000 loài sinh vật biển được ghi nhận, nhưng dữ liệu sinh học cụ thể về từng loài thì chưa đầy đủ. Một số báo cáo đã quá cũ, từ 10 - 20 năm trước. Đây là thách thức lớn vì điều tra sinh học biển rất tốn kém. Trong khi đó, các đối tác quốc tế đã đi xa hơn nhiều.
“Chúng tôi từng làm việc với Mỹ và Nhật Bản. Nước bạn có cơ sở dữ liệu đại dương cực kỳ chi tiết, từ dòng chảy, nhiệt độ, cho tới bản đồ phân tầng. Nhật Bản còn tích hợp AI để đo hấp thụ carbon của rong, tảo biển, phục vụ đánh giá tín chỉ carbon. Việt Nam muốn làm được như vậy phải có ngân hàng dữ liệu tốt, cập nhật thường xuyên và liên tục”, ông Đinh Xuân Lập khẳng định.
Ý tưởng về “ngân hàng dữ liệu biển số hóa” vì thế được xem là nền móng quan trọng cho tương lai không chỉ phục vụ bảo tồn, mà còn cho kinh tế xanh và tín chỉ carbon. Điểm đáng chú ý là cách ông Lập nhìn nhận vai trò của cộng đồng ngư dân như những người “giữ dữ liệu sống”.
Theo ông, ngư dân là kho tri thức bản địa vô giá. Họ biết vùng nào có loài gì, mùa nào cá về, nước đổi dòng ra sao. Nếu kết hợp AI với tri thức bản địa, chúng ta sẽ vừa bảo tồn hiệu quả, vừa giúp sinh kế người dân bền vững hơn.
Ông Lập kể, trong một dự án bảo tồn ở khu đất ngập nước Láng Sen (nay là khu Ramsar), phương pháp chủ yếu là “dựa vào tri thức bản địa”. Khi đó chưa có AI nên việc xác định loài rất khó.
“Bây giờ nếu có AI, chỉ cần dựa trên ký ức của ngư dân, hình ảnh, âm thanh hay tọa độ, phần mềm có thể phác họa lại hệ sinh thái sống của loài, giúp lập kế hoạch bảo tồn nhanh và chính xác hơn”, chuyên gia lập luận.
Cách tiếp cận “AI cộng đồng” này cũng phù hợp với xu thế thế giới, nơi dữ liệu không chỉ đến từ phòng thí nghiệm, mà từ người dân, tàu cá, camera bờ biển, thiết bị bay, phao cảm biến… tạo nên “mạng lưới đại dương thông minh”.
Trong ngành thủy sản, phần lớn tàu xa bờ của Việt Nam đã có hệ thống giám sát hành trình (VMS). Đây là nền tảng để nâng cấp lên các mô hình khai thác thông minh. Vì vậy, nếu tích hợp dữ liệu thời gian thực: Dòng chảy, chuỗi thức ăn, đường di chuyển của đàn cá nổi… thì AI có thể dự báo ngư trường rất chính xác, giúp ngư dân giảm chi phí nhiên liệu, tăng hiệu quả mà vẫn bền vững.
Bên cạnh đó, AI cũng có thể đóng vai trò như “bộ cảm biến khí hậu”: Theo dõi nhiệt độ nước, độ mặn, mức ô nhiễm hay tảo nở hoa, từ đó cảnh báo sớm những vùng biển có nguy cơ suy thoái.
“Nếu có dữ liệu tốt kết hợp AI, chúng ta có thể xác định hệ sinh thái nào đang suy thoái, ngư trường nào cạn kiệt, từ đó quản lý nghề cá dựa trên hệ sinh thái. Đây là hướng đi rất cần thiết khi Việt Nam đang thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030”, Phó Giám đốc Trung tâm Hợp tác quốc tế Nuôi trồng và Khai thác thủy sản bền vững đánh giá.
Biên phòng, kiểm ngư tuyên truyền về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp cho ngư dân. Ảnh: Xuân Hoát

Nền tảng khai thác kinh tế
AI không chỉ hỗ trợ bảo tồn, mà còn mở ra những hướng khai thác mới cho kinh tế biển Việt Nam, nơi nhiều tiềm năng vẫn chưa được khai thác hết. Theo ông Đinh Xuân Lập, công nghệ này có thể giúp nuôi trồng và khai thác thủy sản thông minh, tối ưu thức ăn, dự báo dịch bệnh và giảm chi phí.
Ngoài ra, AI còn hỗ trợ dự báo ngư trường, phục vụ quy hoạch khai thác bền vững; đánh giá tín chỉ carbon từ rong, tảo và rừng ngập mặn; cũng như hướng dẫn du lịch sinh thái biển bằng cách nhận diện sinh cảnh và dự báo thời tiết, đảm bảo trải nghiệm an toàn cho du khách. Thậm chí, AI còn góp phần đánh giá tiềm năng năng lượng tái tạo từ gió, sóng và thủy triều, trở thành trụ cột trong chiến lược chuyển đổi năng lượng xanh của Việt Nam.
“Chúng ta chưa khai thác hiệu quả nguồn năng lượng biển vì thiếu dữ liệu. Nếu có dữ liệu đủ lớn, AI sẽ cho thấy hướng khai thác tối ưu và giảm thiểu rủi ro thời tiết”, ông Đinh Xuân Lập nhấn mạnh.
Tuy công nghệ là điều kiện cần, nhưng các chuyên gia cho rằng, con người và chính sách mới là điều kiện đủ. Việt Nam hiện đang thiếu nhân lực chuyên ngành giao thoa giữa AI và hải dương học, một lĩnh vực đòi hỏi vừa am hiểu biển, vừa tinh thông công nghệ.
Vì vậy, các chuyên gia đề xuất cần sớm xây dựng chương trình quốc gia “Đại dương thông minh” kết nối các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương ven biển; đào tạo nhân lực về AI và dữ liệu biển tại các trường đại học công nghệ và hải dương học; tạo hành lang pháp lý cho việc chia sẻ và thương mại hóa dữ liệu biển; đồng thời khuyến khích hợp tác quốc tế và công tư trong nghiên cứu, phát triển công nghệ biển.
TS Dư Văn Toán khẳng định: “AI không chỉ là công cụ giám sát, mà là nền tảng cho phát triển kinh tế đại dương xanh. Khi dữ liệu biển trở thành tài sản quốc gia, chúng ta mới thực sự bước vào kỷ nguyên kinh tế biển bền vững. Khi trí tuệ nhân tạo chạm đến đại dương, đó không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà là câu chuyện của con người học cách sống hài hòa với biển để biển còn xanh cho thế hệ sau”.

Chia sẻ
trí tuệ nhân tạođại dươngkhám phá đại dươngcông nghệ AIkhoa học biểnđa dạng sinh họcngân hàng dữ liệu biển số hóaAIdữ liệu biểnsố hóakhoa học biển
Theo Nhật Hạ
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2025/10/19 13:15 (GMT+7)

Xem thêm Học tập ngoại khoá

3 đội Robotics LSTS đại diện cho tài năng Việt Nam chinh phục VEX World Championship 2026
Học tập ngoại khoá

3 đội Robotics LSTS đại diện cho tài năng Việt Nam chinh phục VEX World Championship 2026

Ngược dòng thời gian tìm lại ước mơ thuở 18
Học tập ngoại khoá

Ngược dòng thời gian tìm lại ước mơ thuở 18

Phú Thọ công nhận 395 giáo viên dạy giỏi THCS cấp tỉnh
Học tập ngoại khoá

Phú Thọ công nhận 395 giáo viên dạy giỏi THCS cấp tỉnh

Trường ĐH Hoa Sen bắt tay TPHCM thúc đẩy hệ sinh thái dữ liệu và nhân lực số
Học tập ngoại khoá

Trường ĐH Hoa Sen bắt tay TPHCM thúc đẩy hệ sinh thái dữ liệu và nhân lực số

Trường học ở Cà Mau rộn ràng đón Tết Chôl Chnăm Thmây
Học tập ngoại khoá

Trường học ở Cà Mau rộn ràng đón Tết Chôl Chnăm Thmây

Đào tạo liên kết 2+2 ngành Ngôn ngữ Trung Quốc giữa ĐH Việt Nam và Trung Quốc
Học tập ngoại khoá

Đào tạo liên kết 2+2 ngành Ngôn ngữ Trung Quốc giữa ĐH Việt Nam và Trung Quốc

Mới nhất

2026-04-16 10:31

Sân chơi sáng tạo để giáo dục về quyền trẻ em

GD&TĐ - Bằng các trò chơi trí tuệ và tiểu phẩm, trẻ bước đầu nhận biết một số quyền cơ bản của mình như quyền được yêu thương, chăm sóc, bảo vệ.

Sân chơi sáng tạo để giáo dục về quyền trẻ em
2026-04-16 10:31

Đổi mới chăm sóc sức khỏe học đường để phòng bệnh từ sớm

GD&TĐ - Phòng tránh các bệnh không lây nhiễm, chuyên gia khuyến nghị, trường học cần tăng cường giáo dục thể chất để học sinh vận động ít nhất 60 phút/ngày.

Đổi mới chăm sóc sức khỏe học đường để phòng bệnh từ sớm
2026-04-16 10:31

Xây dựng trường học không khói thuốc: Gia đình - 'Hàng rào' quan trọng

GD&TĐ - Sự gắn kết chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh sẽ tạo nên 'hàng rào' vững chắc, giúp quản lý học sinh hiệu quả cả trong và ngoài trường học.

Xây dựng trường học không khói thuốc: Gia đình - 'Hàng rào' quan trọng
2026-04-16 10:28

Phát triển văn hóa đọc: Ngành xuất bản đứng trước cơ hội 10 tỷ USD

(CLO) Trong kỷ nguyên của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, văn hóa đọc vẫn là nền tảng không thể thay thế của sự phát triển bền vững.

Phát triển văn hóa đọc: Ngành xuất bản đứng trước cơ hội 10 tỷ USD
2026-04-16 10:22

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Nâng chất đội ngũ từ 3 nhóm tiêu chuẩn

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư số 28/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư số 28).

Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Nâng chất đội ngũ từ 3 nhóm tiêu chuẩn
2026-04-16 10:22

Doanh nghiệp ‘trải thảm đỏ’ đón sinh viên EPU với cơ hội việc làm lương hấp dẫn

GD&TĐ - Ngày 16/4, Trường Đại học Điện lực (EPU) tổ chức ngày hội tuyển dụng thu hút nhiều doanh nghiệp lớn với hàng nghìn cơ hội việc làm cho sinh viên.

Doanh nghiệp ‘trải thảm đỏ’ đón sinh viên EPU với cơ hội việc làm lương hấp dẫn
2026-04-16 10:21

Trang bị kỹ năng phòng đuối nước, bảo đảm an toàn cho học sinh

GD&TĐ - Trước kỳ nghỉ hè, trường học ở Phú Thọ chú trọng trang bị kỹ năng phòng đuối nước cho học sinh.

Trang bị kỹ năng phòng đuối nước, bảo đảm an toàn cho học sinh
2026-04-16 10:20

Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc tại sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt quốc gia

GD&TĐ - Năm học 2025-2026, tỉnh Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc về số lượng và chất lượng giải sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt trên internet cấp quốc gia.

Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc tại sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt quốc gia
2026-04-16 10:20

Tái định hình dạy và học Toán trong kỷ nguyên số

GD&TĐ - Các nhà toán học nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đổi mới dạy và học Toán để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong thời đại AI và công nghệ.

Tái định hình dạy và học Toán trong kỷ nguyên số
2026-04-16 10:12

Giữ hồn Mường trong nếp nhà sàn

GD&TĐ - Ven lòng hồ sông Đà, giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nhiều gia đình người Mường vẫn gìn giữ nếp nhà sàn truyền thống như muốn lưu lại hồn cốt văn hóa của dân tộc mình.

Giữ hồn Mường trong nếp nhà sàn