Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai: Chiến lược nền tảng cho tương lai quốc gia
2025/11/23 13:55
GD&TĐ - Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai được xem là chiến lược nền tảng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển, hội nhập.
Mục tiêu phải "linh hoạt", nền tảng tiếng Việt vững vàng
Khẳng định ý nghĩa chiến lược của dự thảo Đề án, ông Trần Bảo Tú – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc (xã Trà My, TP Đà Nẵng) cho rằng, mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là bước chuẩn bị căn cơ cho nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong nhiều thập kỷ tới.
Theo ông, ưu điểm lớn nhất của Đề án là mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức toàn cầu cho mọi học sinh, đặc biệt là trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, luôn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện học tập. Đây cũng chính là biểu hiện rõ nét của tinh thần “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, được cụ thể hóa trong chủ trương và Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ về xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng và hội nhập.
Học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc trong một tiết học.
Tuy nhiên, từ thực tế của ngôi trường có đa số học sinh là đồng bào dân tộc thiểu số, ông Tú cho rằng, rào cản lớn nhất chính là ngôn ngữ và văn hóa. Trong khi học sinh thành thị chỉ phải học song ngữ Việt – Anh, thì nhiều học sinh miền núi phải học cả ba ngôn ngữ gồm tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, việc làm quen tiếng Anh có thể dẫn tới tình trạng rối loạn ngôn ngữ nếu không được tổ chức khoa học.
Thầy và trò Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc (xã Trà My) thực hiện nghi Lễ chào cờ.
Vì vậy, ông đề nghị Đề án cần điều chỉnh mục tiêu theo hướng linh hoạt hơn, đảm bảo học sinh có nền tảng tiếng Việt thật vững trước khi tăng cường yêu cầu về tiếng Anh; đồng thời chú trọng đào tạo giáo viên bản địa, những người hiểu văn hóa, tâm lý và tiếng mẹ đẻ của học sinh, qua đó giúp quá trình tiếp cận tiếng Anh trở nên nhẹ nhàng và tự nhiên hơn.
Từ góc độ triển khai thực tiễn, ông Tú nhấn mạnh sự cần thiết của việc thí điểm có đánh giá, phân tích kỹ tác động của Đề án trước khi thực hiện đại trà. Những kết quả từ Đề án Ngoại ngữ quốc gia trước đây cũng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh lặp lại hạn chế, tối ưu hóa nguồn lực và phù hợp hơn với từng nhóm học sinh.
Các hoạt động như xây dựng môi trường giao tiếp tự nhiên, phát triển câu lạc bộ tiếng Anh, bổ sung phòng học ngoại ngữ, tuyên truyền nâng cao nhận thức của phụ huynh và mở rộng giao lưu với giáo viên nước ngoài đang được Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc triển khai chính là bước đệm để học sinh vùng núi hình thành thói quen học ngoại ngữ một cách tự tin, không áp lực.
Đầu tư đội ngũ, xây dựng môi trường song ngữ
Đồng quan điểm về tầm quan trọng của Đề án, bà Nguyễn Thị Kiều Ngân – Giám đốc Khối Tiểu học & THCS FPT Đà Nẵng nhấn mạnh, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn thuần là tăng số tiết học mà xây dựng một chiến lược nền tảng mang tính đổi mới căn bản, chuẩn bị cho tương lai đất nước.
Giao lưu giúp học sinh nâng cao kỹ năng tiếng Anh.
Bởi trong bối cảnh khoa học, công nghệ, kinh doanh và ngoại giao toàn cầu đều vận hành bằng tiếng Anh, Việt Nam không thể để thế hệ trẻ bị chậm nhịp vì rào cản ngôn ngữ. Theo bà Ngân, mục tiêu này khả thi nếu đi cùng cách tiếp cận đồng bộ, đầu tư đủ lớn, đào tạo giáo viên bài bản, giảm áp lực thi cử và đặc biệt là tạo môi trường sử dụng tiếng Anh thực chất mỗi ngày.
Những kinh nghiệm triển khai tại FPT Đà Nẵng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc xây dựng môi trường song ngữ. Thư viện tiếng Anh được đầu tư với hàng nghìn đầu sách, các góc đọc chủ đề, hoạt động kể chuyện và chương trình “Reading Time” hằng tuần tạo nên không gian tiếp xúc ngôn ngữ phong phú, giúp học sinh hình thành thói quen đọc một cách tự nhiên. Hằng ngày, học sinh được giao tiếp với giáo viên bản ngữ, từ chào hỏi, trao đổi tới thảo luận nhóm, tạo nên “tính bắt buộc tích cực” muốn được hiểu thì phải nói tiếng Anh. Nhờ đó, học sinh nhanh chóng cải thiện phản xạ nghe nói, phát âm chuẩn hơn và giảm tâm lý ngại sai, ngại nói.
Học sinh Trường Tiểu học & THCS FPT Đà Nẵng.
“Không chỉ dừng lại ở tương tác trong tiết học, nhà trường còn mở rộng sự hiện diện của giáo viên nước ngoài trong mọi hoạt động: workshop, trại hè, sự kiện ngoại khóa, hoạt động văn hóa… Qua đó, tiếng Anh không còn là “ngôn ngữ của tiết học” mà trở thành ngôn ngữ của đời sống”, bà Ngân chia sẻ.
Ngoài ra, mô hình English Zones cũng giúp học sinh làm quen với việc “bật” tiếng Anh khi bước vào không gian chuyên biệt, từ đó duy trì cảm giác sử dụng ngoại ngữ tự nhiên hơn.
Theo bà Ngân, nhân tố quyết định chất lượng của Đề án vẫn là đội ngũ giáo viên. Vì vậy, việc tuyển dụng giáo viên bản ngữ có chuyên môn quốc tế, đồng thời đào tạo nâng cao năng lực cho giáo viên Việt Nam theo chuẩn CLIL, PBL… được xem là bước đi bắt buộc. Song song đó, các chương trình giao lưu quốc tế, du học hè, hoạt động trải nghiệm toàn cầu giúp học sinh tiếp xúc với tiếng Anh “sống”, qua đó nâng cao khả năng thích nghi và mở rộng tầm nhìn.
Học sinh được trải nghiệm giao lưu với người nước ngoài tại phố cổ Hội An.
Từ góc nhìn của các nhà quản lý giáo dục, dự thảo Đề án có tính định hướng rõ ràng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi đặt mục tiêu thu hẹp bất bình đẳng trong tiếp cận tri thức giữa các nhóm học sinh. Để triển khai hiệu quả, cần có lộ trình phù hợp với đặc thù từng địa phương, chú trọng tới nền tảng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số, đồng thời xây dựng môi trường thực hành tiếng Anh đủ mạnh để trẻ không chỉ học mà còn sử dụng được.
Ý kiến của ông Trần Bảo Tú và bà Nguyễn Thị Kiều Ngân đều cho thấy một điểm chung, muốn đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, phải đặt học sinh vào trung tâm, tăng môi trường sử dụng ngôn ngữ, đầu tư đội ngũ vững vàng và tạo cơ hội công bằng cho mọi trẻ em. Khi những yếu tố đó được đảm bảo, Đề án không chỉ trở thành chính sách trên giấy mà thực sự đi vào cuộc sống, giúp học sinh Việt Nam tự tin hội nhập, vững vàng bước vào tương lai và mang bản lĩnh Việt Nam ra thế giới.
Giáo viên nước ngoài tham gia mọi hoạt động: workshop, trại hè, sự kiện ngoại khóa, hoạt động văn hóa của Trường Tiểu học và THCS FPT Đà Nẵng.
Mục tiêu phải "linh hoạt", nền tảng tiếng Việt vững vàng
Khẳng định ý nghĩa chiến lược của dự thảo Đề án, ông Trần Bảo Tú – Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc (xã Trà My, TP Đà Nẵng) cho rằng, mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học là bước chuẩn bị căn cơ cho nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế trong nhiều thập kỷ tới.
Theo ông, ưu điểm lớn nhất của Đề án là mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức toàn cầu cho mọi học sinh, đặc biệt là trẻ em vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, luôn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện học tập. Đây cũng chính là biểu hiện rõ nét của tinh thần “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, được cụ thể hóa trong chủ trương và Nghị quyết của Trung ương, Chính phủ về xây dựng nền giáo dục hiện đại, công bằng và hội nhập.
Học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc trong một tiết học.
Tuy nhiên, từ thực tế của ngôi trường có đa số học sinh là đồng bào dân tộc thiểu số, ông Tú cho rằng, rào cản lớn nhất chính là ngôn ngữ và văn hóa. Trong khi học sinh thành thị chỉ phải học song ngữ Việt – Anh, thì nhiều học sinh miền núi phải học cả ba ngôn ngữ gồm tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt và tiếng Anh.
Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, việc làm quen tiếng Anh có thể dẫn tới tình trạng rối loạn ngôn ngữ nếu không được tổ chức khoa học.
Thầy và trò Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc (xã Trà My) thực hiện nghi Lễ chào cờ.
Vì vậy, ông đề nghị Đề án cần điều chỉnh mục tiêu theo hướng linh hoạt hơn, đảm bảo học sinh có nền tảng tiếng Việt thật vững trước khi tăng cường yêu cầu về tiếng Anh; đồng thời chú trọng đào tạo giáo viên bản địa, những người hiểu văn hóa, tâm lý và tiếng mẹ đẻ của học sinh, qua đó giúp quá trình tiếp cận tiếng Anh trở nên nhẹ nhàng và tự nhiên hơn.
Từ góc độ triển khai thực tiễn, ông Tú nhấn mạnh sự cần thiết của việc thí điểm có đánh giá, phân tích kỹ tác động của Đề án trước khi thực hiện đại trà. Những kết quả từ Đề án Ngoại ngữ quốc gia trước đây cũng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tránh lặp lại hạn chế, tối ưu hóa nguồn lực và phù hợp hơn với từng nhóm học sinh.
Các hoạt động như xây dựng môi trường giao tiếp tự nhiên, phát triển câu lạc bộ tiếng Anh, bổ sung phòng học ngoại ngữ, tuyên truyền nâng cao nhận thức của phụ huynh và mở rộng giao lưu với giáo viên nước ngoài đang được Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc triển khai chính là bước đệm để học sinh vùng núi hình thành thói quen học ngoại ngữ một cách tự tin, không áp lực.
Đầu tư đội ngũ, xây dựng môi trường song ngữ
Đồng quan điểm về tầm quan trọng của Đề án, bà Nguyễn Thị Kiều Ngân – Giám đốc Khối Tiểu học & THCS FPT Đà Nẵng nhấn mạnh, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn thuần là tăng số tiết học mà xây dựng một chiến lược nền tảng mang tính đổi mới căn bản, chuẩn bị cho tương lai đất nước.
Giao lưu giúp học sinh nâng cao kỹ năng tiếng Anh.
Bởi trong bối cảnh khoa học, công nghệ, kinh doanh và ngoại giao toàn cầu đều vận hành bằng tiếng Anh, Việt Nam không thể để thế hệ trẻ bị chậm nhịp vì rào cản ngôn ngữ. Theo bà Ngân, mục tiêu này khả thi nếu đi cùng cách tiếp cận đồng bộ, đầu tư đủ lớn, đào tạo giáo viên bài bản, giảm áp lực thi cử và đặc biệt là tạo môi trường sử dụng tiếng Anh thực chất mỗi ngày.
Những kinh nghiệm triển khai tại FPT Đà Nẵng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt của việc xây dựng môi trường song ngữ. Thư viện tiếng Anh được đầu tư với hàng nghìn đầu sách, các góc đọc chủ đề, hoạt động kể chuyện và chương trình “Reading Time” hằng tuần tạo nên không gian tiếp xúc ngôn ngữ phong phú, giúp học sinh hình thành thói quen đọc một cách tự nhiên. Hằng ngày, học sinh được giao tiếp với giáo viên bản ngữ, từ chào hỏi, trao đổi tới thảo luận nhóm, tạo nên “tính bắt buộc tích cực” muốn được hiểu thì phải nói tiếng Anh. Nhờ đó, học sinh nhanh chóng cải thiện phản xạ nghe nói, phát âm chuẩn hơn và giảm tâm lý ngại sai, ngại nói.
Học sinh Trường Tiểu học & THCS FPT Đà Nẵng.
“Không chỉ dừng lại ở tương tác trong tiết học, nhà trường còn mở rộng sự hiện diện của giáo viên nước ngoài trong mọi hoạt động: workshop, trại hè, sự kiện ngoại khóa, hoạt động văn hóa… Qua đó, tiếng Anh không còn là “ngôn ngữ của tiết học” mà trở thành ngôn ngữ của đời sống”, bà Ngân chia sẻ.
Ngoài ra, mô hình English Zones cũng giúp học sinh làm quen với việc “bật” tiếng Anh khi bước vào không gian chuyên biệt, từ đó duy trì cảm giác sử dụng ngoại ngữ tự nhiên hơn.
Theo bà Ngân, nhân tố quyết định chất lượng của Đề án vẫn là đội ngũ giáo viên. Vì vậy, việc tuyển dụng giáo viên bản ngữ có chuyên môn quốc tế, đồng thời đào tạo nâng cao năng lực cho giáo viên Việt Nam theo chuẩn CLIL, PBL… được xem là bước đi bắt buộc. Song song đó, các chương trình giao lưu quốc tế, du học hè, hoạt động trải nghiệm toàn cầu giúp học sinh tiếp xúc với tiếng Anh “sống”, qua đó nâng cao khả năng thích nghi và mở rộng tầm nhìn.
Học sinh được trải nghiệm giao lưu với người nước ngoài tại phố cổ Hội An.
Từ góc nhìn của các nhà quản lý giáo dục, dự thảo Đề án có tính định hướng rõ ràng, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi đặt mục tiêu thu hẹp bất bình đẳng trong tiếp cận tri thức giữa các nhóm học sinh. Để triển khai hiệu quả, cần có lộ trình phù hợp với đặc thù từng địa phương, chú trọng tới nền tảng tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số, đồng thời xây dựng môi trường thực hành tiếng Anh đủ mạnh để trẻ không chỉ học mà còn sử dụng được.
Ý kiến của ông Trần Bảo Tú và bà Nguyễn Thị Kiều Ngân đều cho thấy một điểm chung, muốn đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, phải đặt học sinh vào trung tâm, tăng môi trường sử dụng ngôn ngữ, đầu tư đội ngũ vững vàng và tạo cơ hội công bằng cho mọi trẻ em. Khi những yếu tố đó được đảm bảo, Đề án không chỉ trở thành chính sách trên giấy mà thực sự đi vào cuộc sống, giúp học sinh Việt Nam tự tin hội nhập, vững vàng bước vào tương lai và mang bản lĩnh Việt Nam ra thế giới.
Nữ sinh lớp 11 ở Đắk Lắk ẵm giải Nhất hội thi về an toàn giao thông cấp quốc gia
GD&TĐ - Những giải pháp thiết thực nhằm phát huy vai trò của giáo dục an toàn giao thông cho học sinh, giúp nữ sinh lớp 11 ở Đắk Lắk ẵm giải Nhất quốc gia.
2026-03-16 07:52
Học sinh Phú Thọ lan tỏa văn hóa giao thông từ sân chơi học đường
GD&TĐ - Phú Thọ giành 31 giải tại Hội thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai” năm học 2025 - 2026, góp phần lan tỏa văn hóa giao thông.
2026-03-16 07:48
Kiến tạo hệ giá trị con người thời đại mới: Nền tảng hình thành nhân cách từ văn hóa học đường
GD&TĐ - Xây dựng môi trường học đường an toàn, hạnh phúc là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lối sống và hệ giá trị của học sinh.
2026-03-16 07:48
Nóng trong tuần: Trường ĐH triển khai Nghị quyết 57; Bộ GD&ĐT có tân Thứ trưởng
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT có tân Thứ trưởng, khai Nghị quyết 57 tại cơ sở GDĐH, ban hành Quy chế thi tốt nghiệp THPT... là thông tin giáo dục nổi bật tuần qua.
2026-03-16 07:47
Nâng cao tầm vóc học sinh Việt: Gắn thể chất với dinh dưỡng học đường
GD&TĐ - Việt Nam đang đối mặt với “gánh nặng kép” trong dinh dưỡng học đường: Suy dinh dưỡng và thiếu vi chất vẫn tồn tại ở nhiều khu vực, trong khi tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em gia tăng nhanh tại các đô thị.
2026-03-13 09:17
Khi du lịch trở thành cách người trẻ lan tỏa yêu thương
(CLO) Không chỉ đơn thuần là những chuyến đi khám phá, dự án “Đi cùng Mây” của một nhóm bạn trẻ đã biến mỗi hành trình thành cơ hội lan toả yêu thương đến cộng đồng.
2026-03-13 09:17
Để cử tri tuổi 18 hiểu đúng giá trị lá phiếu bầu cử
GD&TĐ - Việc hiểu rõ giá trị lá phiếu cử tri giúp học sinh bồi đắp ý thức công dân, để mỗi lá phiếu được thực hiện với sự hiểu biết và trách nhiệm.
2026-03-13 09:16
Đa dạng hoạt động hướng về ngày hội bầu cử trong trường học tại Tuyên Quang
GD&TĐ - Tuyên Quang đa dạng hoạt động lan tỏa trách nhiệm công dân, hướng về ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp trong trường học.
2026-03-13 09:15
Nhiều di tích tại Hà Nội được chọn làm điểm bỏ phiếu
(CLO) Hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, nhiều di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn Thủ đô Hà Nội đã và đang được lựa chọn làm điểm bỏ phiếu.
2026-03-13 09:15
Xem trực tiếp Lễ trao giải Oscars lần thứ 98 trên kênh nào?
GD&TĐ - Đài Truyền hình Việt Nam sở hữu bản quyền và truyền hình trực tiếp Lễ trao giải Oscars 2026 lúc 5h30 ngày 16/3 trên kênh VTV3.