Sáp nhập đại học chỉ dùng mệnh lệnh hành chính sẽ tạo ra 'cơ thể khổng lồ nhưng yếu ớt'
2025/10/14 09:40
(CLO) Thành công của quá trình này phụ thuộc vào việc sáp nhập có đi đôi với cơ chế quản trị minh bạch, tôn trọng tự chủ học thuật và trách nhiệm xã hội, thay vì chỉ dừng lại ở mệnh lệnh hành chính mang tính hình thức.
Tiếp nối loạt ý kiến gửi tới Báo Nhà báo & Công luận trong chuyên đề 'Vẽ lại giang sơn về hành chính' cần thiết phải 'vẽ lại giang sơn giáo dục đại học', Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT), Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam nhấn mạnh: “Nếu quá trình sáp nhập các trường chỉ được tiến hành bằng mệnh lệnh hành chính, thiếu đối thoại và không bảo đảm quyền lợi chính đáng của giảng viên, sinh viên, thì hệ quả có thể là những ‘đại học hình thức’ – quy mô lớn nhưng thiếu sức sống, thống nhất trên giấy tờ nhưng rời rạc trong thực chất".
TS Khuyến cho rằng, việc tái cấu trúc, sáp nhập các trường đại học ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là quyết định mang tính chiến lược gắn với tương lai phát triển quốc gia.
Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế tri thức dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam buộc phải xây dựng một hệ thống đại học mạnh, đủ năng lực đào tạo nhân lực chất lượng cao và tạo ra tri thức mới.
“Duy trì một hệ thống phân tán, kém hiệu quả không chỉ gây lãng phí mà còn kéo lùi sự phát triển của quốc gia", TS Khuyến nói.
Việc sáp nhập các trường đại học để hình thành đại học đa lĩnh vực quy mô lớn, có năng lực đào tạo – nghiên cứu liên ngành, được coi là giải pháp chiến lược, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn là quyết định mang tính chính trị.
Ông nhấn mạnh 5 nguyên tắc nền tảng cần được quán triệt: vì lợi ích công, tôn trọng tự chủ đại học, minh bạch và giải trình, hài hòa lợi ích giữa các bên, và thực hiện theo lộ trình từng bước.
Về tiêu chí, việc lựa chọn trường để sáp nhập cần dựa trên các yếu tố địa lý, lĩnh vực đào tạo, năng lực nghiên cứu, quy mô hoạt động và tính chiến lược quốc gia.
Việc sáp nhập không thể làm ồ ạt mà phải có tiêu chí rõ ràng: ưu tiên các trường cùng địa bàn, có ngành bổ sung cho nhau, quy mô nhỏ hoặc hiệu quả thấp, hướng tới hình thành đại học đa lĩnh vực vùng – quốc gia.
Ưu tiên sáp nhập các trường cùng địa bàn, có ngành học bổ sung cho nhau, cùng sứ mệnh nhưng khác thế mạnh, nhằm hình thành đại học đa lĩnh vực vừa phục vụ nhu cầu địa phương, vừa hướng tới chuẩn quốc tế.
TS Khuyến đề xuất 4 mô hình sáp nhập khả thi: hợp nhất toàn phần, liên kết kiểu liên hiệp, lai ghép và cụm trường liên kết – mỗi mô hình có ưu, nhược điểm riêng và cần được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế.
Trong đó, điều cốt lõi là thiết kế cơ chế quản trị hiện đại sau sáp nhập. Hội đồng trường phải có thực quyền, hiệu trưởng phải là nhà học thuật, phân cấp rõ ràng giữa đại học và các đơn vị thành viên để tránh chồng chéo quyền lực.
Lộ trình sáp nhập cũng cần được thực hiện thận trọng: giai đoạn 2025–2030 thí điểm ở các đô thị lớn; 2030–2040 mở rộng ra các vùng kinh tế trọng điểm; và sau 2040 hoàn thiện mạng lưới đại học toàn quốc, hướng tới việc có 2–5 đại học Việt Nam lọt top 100 thế giới.
Quá trình này, nếu được thực hiện bài bản, sẽ mang lại nhiều tác động tích cực: tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, nâng cao năng lực nghiên cứu, hình thành đại học đa lĩnh vực mạnh, thu hút sinh viên và đối tác quốc tế.
Tuy nhiên, rủi ro cũng không nhỏ: mất bản sắc, xung đột lợi ích, tâm lý bất ổn trong đội ngũ, và đặc biệt là nguy cơ “hành chính hóa” khiến bộ máy cồng kềnh, kém linh hoạt.
Để tránh những hệ quả này, cần minh bạch thông tin, bảo đảm quyền lợi giảng viên – sinh viên, duy trì thương hiệu truyền thống dưới dạng “trường thành viên” và gắn kết hoạt động của đại học với phát triển vùng.
Đại học mới cần có Hội đồng trường thực quyền, phân cấp rõ ràng giữa đại học và các đơn vị thành viên, người đứng đầu phải là nhà học thuật có năng lực quản trị, không chỉ là vị trí hành chính.
Về chính sách, TS Khuyến kiến nghị Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo – giám sát thay vì áp đặt hành chính; đồng thời sửa đổi Luật Giáo dục đại học, bổ sung quy định về sáp nhập, giải thể, cơ chế trọng tài độc lập và trách nhiệm giải trình tài chính.
Cơ chế quản trị phải thống nhất, có tự chủ phân tầng, và mở rộng sự tham gia của giảng viên, sinh viên, doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định.
Ngoài ra, cần có chính sách nhân sự hợp lý, bảo vệ quyền lợi đội ngũ, thu hút nhân tài trong và ngoài nước, và cơ chế tài chính minh bạch, đa dạng nguồn vốn mà không thương mại hóa giáo dục công.
Nếu tiếp tục duy trì cơ chế cũ, sáp nhập chỉ khiến bộ máy phình to, thiếu hiệu quả, lặp lại mô hình “đại học vùng” từng tồn tại nhiều bất cập.
Theo TS Khuyến, Việt Nam có thể tham khảo mô hình của Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore hay Australia – những quốc gia đã thành công nhờ cải cách quản trị gắn liền với đầu tư nhà nước. Dẫu vậy, Việt Nam không thể sao chép, mà cần chọn cách tiếp cận linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tế.
Tiến trình sáp nhập đại học ở Việt Nam là không thể đảo ngược. Nhưng thành hay bại không phụ thuộc vào quy mô sáp nhập, mà vào việc chúng ta có dám đổi mới cơ chế quản trị và đặt lợi ích người học – giảng viên làm trung tâm hay không.
Tiếp nối loạt ý kiến gửi tới Báo Nhà báo & Công luận trong chuyên đề 'Vẽ lại giang sơn về hành chính' cần thiết phải 'vẽ lại giang sơn giáo dục đại học', Tiến sĩ Lê Viết Khuyến, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT), Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam nhấn mạnh: “Nếu quá trình sáp nhập các trường chỉ được tiến hành bằng mệnh lệnh hành chính, thiếu đối thoại và không bảo đảm quyền lợi chính đáng của giảng viên, sinh viên, thì hệ quả có thể là những ‘đại học hình thức’ – quy mô lớn nhưng thiếu sức sống, thống nhất trên giấy tờ nhưng rời rạc trong thực chất".
Tiến sĩ Lê Viết Khuyến - nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện là Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam.
TS Khuyến cho rằng, việc tái cấu trúc, sáp nhập các trường đại học ở Việt Nam không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là quyết định mang tính chiến lược gắn với tương lai phát triển quốc gia.
Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế tri thức dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Để đạt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam buộc phải xây dựng một hệ thống đại học mạnh, đủ năng lực đào tạo nhân lực chất lượng cao và tạo ra tri thức mới.
“Duy trì một hệ thống phân tán, kém hiệu quả không chỉ gây lãng phí mà còn kéo lùi sự phát triển của quốc gia", TS Khuyến nói.
Việc sáp nhập các trường đại học để hình thành đại học đa lĩnh vực quy mô lớn, có năng lực đào tạo – nghiên cứu liên ngành, được coi là giải pháp chiến lược, không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn là quyết định mang tính chính trị.
Ông nhấn mạnh 5 nguyên tắc nền tảng cần được quán triệt: vì lợi ích công, tôn trọng tự chủ đại học, minh bạch và giải trình, hài hòa lợi ích giữa các bên, và thực hiện theo lộ trình từng bước.
Về tiêu chí, việc lựa chọn trường để sáp nhập cần dựa trên các yếu tố địa lý, lĩnh vực đào tạo, năng lực nghiên cứu, quy mô hoạt động và tính chiến lược quốc gia.
Việc sáp nhập không thể làm ồ ạt mà phải có tiêu chí rõ ràng: ưu tiên các trường cùng địa bàn, có ngành bổ sung cho nhau, quy mô nhỏ hoặc hiệu quả thấp, hướng tới hình thành đại học đa lĩnh vực vùng – quốc gia.
Ưu tiên sáp nhập các trường cùng địa bàn, có ngành học bổ sung cho nhau, cùng sứ mệnh nhưng khác thế mạnh, nhằm hình thành đại học đa lĩnh vực vừa phục vụ nhu cầu địa phương, vừa hướng tới chuẩn quốc tế.
TS Khuyến đề xuất 4 mô hình sáp nhập khả thi: hợp nhất toàn phần, liên kết kiểu liên hiệp, lai ghép và cụm trường liên kết – mỗi mô hình có ưu, nhược điểm riêng và cần được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế.
Trong đó, điều cốt lõi là thiết kế cơ chế quản trị hiện đại sau sáp nhập. Hội đồng trường phải có thực quyền, hiệu trưởng phải là nhà học thuật, phân cấp rõ ràng giữa đại học và các đơn vị thành viên để tránh chồng chéo quyền lực.
Lộ trình sáp nhập cũng cần được thực hiện thận trọng: giai đoạn 2025–2030 thí điểm ở các đô thị lớn; 2030–2040 mở rộng ra các vùng kinh tế trọng điểm; và sau 2040 hoàn thiện mạng lưới đại học toàn quốc, hướng tới việc có 2–5 đại học Việt Nam lọt top 100 thế giới.
Quá trình này, nếu được thực hiện bài bản, sẽ mang lại nhiều tác động tích cực: tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, nâng cao năng lực nghiên cứu, hình thành đại học đa lĩnh vực mạnh, thu hút sinh viên và đối tác quốc tế.
Tuy nhiên, rủi ro cũng không nhỏ: mất bản sắc, xung đột lợi ích, tâm lý bất ổn trong đội ngũ, và đặc biệt là nguy cơ “hành chính hóa” khiến bộ máy cồng kềnh, kém linh hoạt.
Để tránh những hệ quả này, cần minh bạch thông tin, bảo đảm quyền lợi giảng viên – sinh viên, duy trì thương hiệu truyền thống dưới dạng “trường thành viên” và gắn kết hoạt động của đại học với phát triển vùng.
Đại học mới cần có Hội đồng trường thực quyền, phân cấp rõ ràng giữa đại học và các đơn vị thành viên, người đứng đầu phải là nhà học thuật có năng lực quản trị, không chỉ là vị trí hành chính.
Về chính sách, TS Khuyến kiến nghị Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo – giám sát thay vì áp đặt hành chính; đồng thời sửa đổi Luật Giáo dục đại học, bổ sung quy định về sáp nhập, giải thể, cơ chế trọng tài độc lập và trách nhiệm giải trình tài chính.
Cơ chế quản trị phải thống nhất, có tự chủ phân tầng, và mở rộng sự tham gia của giảng viên, sinh viên, doanh nghiệp trong quá trình ra quyết định.
Ngoài ra, cần có chính sách nhân sự hợp lý, bảo vệ quyền lợi đội ngũ, thu hút nhân tài trong và ngoài nước, và cơ chế tài chính minh bạch, đa dạng nguồn vốn mà không thương mại hóa giáo dục công.
Nếu tiếp tục duy trì cơ chế cũ, sáp nhập chỉ khiến bộ máy phình to, thiếu hiệu quả, lặp lại mô hình “đại học vùng” từng tồn tại nhiều bất cập.
Theo TS Khuyến, Việt Nam có thể tham khảo mô hình của Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore hay Australia – những quốc gia đã thành công nhờ cải cách quản trị gắn liền với đầu tư nhà nước. Dẫu vậy, Việt Nam không thể sao chép, mà cần chọn cách tiếp cận linh hoạt, phù hợp điều kiện thực tế.
Tiến trình sáp nhập đại học ở Việt Nam là không thể đảo ngược. Nhưng thành hay bại không phụ thuộc vào quy mô sáp nhập, mà vào việc chúng ta có dám đổi mới cơ chế quản trị và đặt lợi ích người học – giảng viên làm trung tâm hay không.
GD&TĐ - Bằng các trò chơi trí tuệ và tiểu phẩm, trẻ bước đầu nhận biết một số quyền cơ bản của mình như quyền được yêu thương, chăm sóc, bảo vệ.
2026-04-16 10:31
Đổi mới chăm sóc sức khỏe học đường để phòng bệnh từ sớm
GD&TĐ - Phòng tránh các bệnh không lây nhiễm, chuyên gia khuyến nghị, trường học cần tăng cường giáo dục thể chất để học sinh vận động ít nhất 60 phút/ngày.
2026-04-16 10:31
Xây dựng trường học không khói thuốc: Gia đình - 'Hàng rào' quan trọng
GD&TĐ - Sự gắn kết chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh sẽ tạo nên 'hàng rào' vững chắc, giúp quản lý học sinh hiệu quả cả trong và ngoài trường học.
2026-04-16 10:30
3 đội Robotics LSTS đại diện cho tài năng Việt Nam chinh phục VEX World Championship 2026
Từ ngày 21 - 30/4, 3 đội Robotics LSTS - 3 đội xuất sắc đại diện cho tài năng Việt Nam sẽ chính thức lên đường chinh phục VEX World Championship 2026.
2026-04-16 10:28
Phát triển văn hóa đọc: Ngành xuất bản đứng trước cơ hội 10 tỷ USD
(CLO) Trong kỷ nguyên của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, văn hóa đọc vẫn là nền tảng không thể thay thế của sự phát triển bền vững.
2026-04-16 10:22
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Nâng chất đội ngũ từ 3 nhóm tiêu chuẩn
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư số 28/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư số 28).
2026-04-16 10:22
Doanh nghiệp ‘trải thảm đỏ’ đón sinh viên EPU với cơ hội việc làm lương hấp dẫn
GD&TĐ - Ngày 16/4, Trường Đại học Điện lực (EPU) tổ chức ngày hội tuyển dụng thu hút nhiều doanh nghiệp lớn với hàng nghìn cơ hội việc làm cho sinh viên.
2026-04-16 10:21
Trang bị kỹ năng phòng đuối nước, bảo đảm an toàn cho học sinh
GD&TĐ - Trước kỳ nghỉ hè, trường học ở Phú Thọ chú trọng trang bị kỹ năng phòng đuối nước cho học sinh.
2026-04-16 10:20
Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc tại sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt quốc gia
GD&TĐ - Năm học 2025-2026, tỉnh Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc về số lượng và chất lượng giải sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt trên internet cấp quốc gia.
2026-04-16 10:12
Giữ hồn Mường trong nếp nhà sàn
GD&TĐ - Ven lòng hồ sông Đà, giữa những đổi thay của đời sống hiện đại, nhiều gia đình người Mường vẫn gìn giữ nếp nhà sàn truyền thống như muốn lưu lại hồn cốt văn hóa của dân tộc mình.