NSND Vương Duy Biên: Phục dựng, phải giữ được hồn cốt di sản
2025/06/23 13:40
(NB&CL) Phục dựng một di sản văn hóa không đơn thuần là việc khôi phục lại hình dáng bên ngoài, mà quan trọng hơn là phải tái hiện được “linh hồn”, cái tinh túy đã làm nên giá trị độc đáo của nó.
Đó là chia sẻ của NSND Vương Duy Biên, Phó Chủ tịch chuyên trách Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Báo Nhà báo và Công luận.
+ Việc phục dựng các di tích không phải là chuyện mới, từ xưa các cụ ta đã làm rất nhiều, điều đó còn được ghi trong các văn tự, bi ký… Nhưng đến nay, câu chuyện phục dựng các di tích, di sản vẫn luôn được xã hội quan tâm. Ông nghĩ sao về điều này, thưa ông?
- Đây là xu thế chung của tất cả các nước trên thế giới, người ta đều quan tâm đến các di tích, các di sản bị thời gian tàn phá. Với Việt Nam chúng ta phải trải qua một thời gian dài chiến tranh cho nên nhiều di tích bị ảnh hưởng, có di tích bị mất hẳn. Cho nên việc phục dựng các di tích, di sản để cho thế hệ hôm nay và mai sau biết được truyền thống và lịch sử, văn hóa của cha ông cũng chính là việc giữ gìn bản sắc, giữ gìn văn hóa truyền thống. Khi khai quật Hoàng thành Thăng Long, tìm thấy những dấu tích, những cổ vật dù ít ỏi chúng ta vẫn luôn trân trọng bởi dưới đó là những tầng văn hóa, là lịch sử của đất nước. Có thể nói, việc phục dựng, bảo tồn các di sản rất quan trọng không chỉ đối với ngành văn hóa mà còn đối với toàn xã hội, do đó hoạt động này luôn được dư luận quan tâm cũng là điều dễ hiểu.
+ Chúng ta đã có Chùa Một Cột phục dựng năm 1955 hay nhà Thái Học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng lại năm 1998-2000. Đây là những công trình được đánh giá là mang nét kiến trúc truyền thống và hài hòa với không gian xung quanh, hay nói cách khác là thành công trong việc phục dựng di tích cổ. Theo ông, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì từ những thành công này?
- Đó là việc phải tôn trọng lịch sử và đặc biệt khi phục dựng phải giữ được hồn cốt của di tích, di sản. Chúng ta có một ngành gọi là ngành trùng tu di tích. Đối với ngành này cần có cả kiến thức lịch sử và khoa học. Chúng ta từng mời các chuyên gia nước ngoài để phục dựng các di tích tháp Chăm, di tích Óc Eo, di tích Mỹ Sơn. Làm việc với chuyên gia nước ngoài, chúng ta học được rất nhiều từ họ, đó là sự nghiên cứu sâu sắc và tỉ mỉ. Ví dụ phải nghiên cứu phục dựng từng viên gạch, phục dựng lại chất liệu xây dựng, gỗ thời đó như thế nào, đinh đóng trên gỗ ra sao... tất cả những thứ đó đều phải tôn trọng lịch sử.
Đối với văn hóa phi vật thể, việc phục dựng còn khó khăn hơn nhiều vì những căn cứ còn lại chỉ là những lời kể truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mà mỗi lần truyền đi truyền lại như thế lại có những yếu tố bị mất đi, hay thậm chí thêm vào những yếu tố mới hơn. Ví dụ chèo cổ cách đây 100 năm sẽ khác với chèo bây giờ, ca trù, hát xẩm, hát văn cũng vậy. Nói như vậy để thấy hiện nay tư liệu cho ngành này chúng ta thiếu rất nhiều. Trong khi các nước khác như Trung Quốc chẳng hạn, những tài liệu từ thời Tần Thủy Hoàng họ vẫn còn giữ được thì chúng ta ngay cả thời kỳ gần đây nhất là triều Nguyễn cũng không còn nhiều tư liệu. Mặc dù còn một vài bộ quần áo hay khu kinh thành, nhưng bây giờ hỏi một ông tướng triều Nguyễn ra trận mặc như thế nào chúng ta cũng không biết. Thời ấy các cụ đánh nhau như thế nào, vũ khí ra sao cũng có tư liệu đâu? Những thời kỳ trước đó lại càng không có. Do không còn tư liệu nên bây giờ muốn làm một bức tượng, một bộ phim về Lê Lợi ra trận mặc như thế nào, Nguyễn Trãi mặc ra sao là… chịu. Bí quá thì lại ang áng trang phục của Trung Quốc thời đấy đem ra mặc vào rồi bảo đó là cổ phục của mình. Cho nên việc phục dựng gây nên tranh cãi là chuyện đương nhiên. Khi chúng ta dựng tượng Lý Công Uẩn ở Bờ Hồ cũng có nhiều ý kiến, mà tôi khẳng định luôn, đó là trang phục Trung Quốc. Trang phục này phiên sang cùng thời hồi thế kỷ XI là trang phục đời Tống mà cái mũ bình thiên thể hiện rất rõ. Khi vua Lý Công Uẩn lên ngôi ai khẳng định ông mặc trang phục đó, đội mũ đó? Chẳng lẽ nhà vua mượn trang phục của Trung Quốc để mặc? Dựng tượng một vị vua Việt Nam mà lại mặc trang phục Trung Quốc như vậy, rõ ràng là không ổn.
+ Vậy giải pháp trong những trường hợp này là gì? Chẳng lẽ chúng ta đành “chịu” như ông nói?
- Chúng ta có thiệt thòi là nguồn tư liệu không có cho nên phải nghiên cứu kỹ càng, thận trọng, phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác trong quá trình phục dựng di sản văn hóa. Khi tôi làm tượng cụ Trần Hưng Đạo ở Nam Định, tôi đi gặp cả hai bác Phan Huy Lê, bác Hà Văn Tấn - hai nhà sử học hàng đầu trong “bộ tứ” của Việt Nam. Mặc dù đều nghiên cứu rất kỹ về đời Trần nhưng hai bác đều nói rằng, “tôi không thể nói với anh là anh làm thế này có giống cụ Trần Hưng Đạo hay không, tôi không thể nói cụ là người cao hay thấp, béo hay gầy, mặc quần áo như thế nào, tôi chịu. Tôi chỉ nói được rằng, tôi có cảm nhận cái này là Trần Hưng Đạo, bởi vì căn cứ vào những kiến thức tôi đã học, những gì tôi đã nghiên cứu thôi. Tôi không thể khẳng định nhưng tôi cảm nhận được cái tinh thần toát ra là một vị tướng của Việt Nam hội đủ các phẩm chất nhân, nghĩa, trí, dũng”.
Tóm lại, khi tư liệu không có, chúng ta làm bằng những nghiên cứu, bằng cảm nhận thôi, đó là những thiệt thòi của chúng ta. Cho nên việc phục dựng di tích, di sản vật thể chúng ta còn may mắn khi còn có những nền móng, tầng lớp văn hóa để làm căn cứ, chứ bây giờ muốn phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta sẽ phải chấp nhận chỉ ở mức tương đối thôi.
NSND Vương Duy Biên trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận. Ảnh: Sơn Hải
+ Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Đề án số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Qua theo dõi ông có thể đánh giá gì về đề án này?
- Như tôi đã nói, có nhiều di sản văn hóa phi vật thể chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, nhiều di tích vật thể nay đã không còn. Cho nên việc chúng ta số hóa được các lễ hội là điều rất tốt, chúng ta sẽ có một kho dữ liệu về di sản văn hóa - ít nhất là vào thời điểm này - để lại cho thế hệ mai sau. Cũng từ những căn cứ này, chắc chắn công tác phục dựng di sản văn hóa sẽ có thêm những thuận lợi không nhỏ.
Đó là chia sẻ của NSND Vương Duy Biên, Phó Chủ tịch chuyên trách Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Báo Nhà báo và Công luận.
+ Việc phục dựng các di tích không phải là chuyện mới, từ xưa các cụ ta đã làm rất nhiều, điều đó còn được ghi trong các văn tự, bi ký… Nhưng đến nay, câu chuyện phục dựng các di tích, di sản vẫn luôn được xã hội quan tâm. Ông nghĩ sao về điều này, thưa ông?
- Đây là xu thế chung của tất cả các nước trên thế giới, người ta đều quan tâm đến các di tích, các di sản bị thời gian tàn phá. Với Việt Nam chúng ta phải trải qua một thời gian dài chiến tranh cho nên nhiều di tích bị ảnh hưởng, có di tích bị mất hẳn. Cho nên việc phục dựng các di tích, di sản để cho thế hệ hôm nay và mai sau biết được truyền thống và lịch sử, văn hóa của cha ông cũng chính là việc giữ gìn bản sắc, giữ gìn văn hóa truyền thống. Khi khai quật Hoàng thành Thăng Long, tìm thấy những dấu tích, những cổ vật dù ít ỏi chúng ta vẫn luôn trân trọng bởi dưới đó là những tầng văn hóa, là lịch sử của đất nước. Có thể nói, việc phục dựng, bảo tồn các di sản rất quan trọng không chỉ đối với ngành văn hóa mà còn đối với toàn xã hội, do đó hoạt động này luôn được dư luận quan tâm cũng là điều dễ hiểu.
Tượng đài Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn của NSND Vương Duy Biên tại Quảng trường 3/2, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ảnh: NVCC
+ Chúng ta đã có Chùa Một Cột phục dựng năm 1955 hay nhà Thái Học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng lại năm 1998-2000. Đây là những công trình được đánh giá là mang nét kiến trúc truyền thống và hài hòa với không gian xung quanh, hay nói cách khác là thành công trong việc phục dựng di tích cổ. Theo ông, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì từ những thành công này?
- Đó là việc phải tôn trọng lịch sử và đặc biệt khi phục dựng phải giữ được hồn cốt của di tích, di sản. Chúng ta có một ngành gọi là ngành trùng tu di tích. Đối với ngành này cần có cả kiến thức lịch sử và khoa học. Chúng ta từng mời các chuyên gia nước ngoài để phục dựng các di tích tháp Chăm, di tích Óc Eo, di tích Mỹ Sơn. Làm việc với chuyên gia nước ngoài, chúng ta học được rất nhiều từ họ, đó là sự nghiên cứu sâu sắc và tỉ mỉ. Ví dụ phải nghiên cứu phục dựng từng viên gạch, phục dựng lại chất liệu xây dựng, gỗ thời đó như thế nào, đinh đóng trên gỗ ra sao... tất cả những thứ đó đều phải tôn trọng lịch sử.
Đối với văn hóa phi vật thể, việc phục dựng còn khó khăn hơn nhiều vì những căn cứ còn lại chỉ là những lời kể truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mà mỗi lần truyền đi truyền lại như thế lại có những yếu tố bị mất đi, hay thậm chí thêm vào những yếu tố mới hơn. Ví dụ chèo cổ cách đây 100 năm sẽ khác với chèo bây giờ, ca trù, hát xẩm, hát văn cũng vậy. Nói như vậy để thấy hiện nay tư liệu cho ngành này chúng ta thiếu rất nhiều. Trong khi các nước khác như Trung Quốc chẳng hạn, những tài liệu từ thời Tần Thủy Hoàng họ vẫn còn giữ được thì chúng ta ngay cả thời kỳ gần đây nhất là triều Nguyễn cũng không còn nhiều tư liệu. Mặc dù còn một vài bộ quần áo hay khu kinh thành, nhưng bây giờ hỏi một ông tướng triều Nguyễn ra trận mặc như thế nào chúng ta cũng không biết. Thời ấy các cụ đánh nhau như thế nào, vũ khí ra sao cũng có tư liệu đâu? Những thời kỳ trước đó lại càng không có. Do không còn tư liệu nên bây giờ muốn làm một bức tượng, một bộ phim về Lê Lợi ra trận mặc như thế nào, Nguyễn Trãi mặc ra sao là… chịu. Bí quá thì lại ang áng trang phục của Trung Quốc thời đấy đem ra mặc vào rồi bảo đó là cổ phục của mình. Cho nên việc phục dựng gây nên tranh cãi là chuyện đương nhiên. Khi chúng ta dựng tượng Lý Công Uẩn ở Bờ Hồ cũng có nhiều ý kiến, mà tôi khẳng định luôn, đó là trang phục Trung Quốc. Trang phục này phiên sang cùng thời hồi thế kỷ XI là trang phục đời Tống mà cái mũ bình thiên thể hiện rất rõ. Khi vua Lý Công Uẩn lên ngôi ai khẳng định ông mặc trang phục đó, đội mũ đó? Chẳng lẽ nhà vua mượn trang phục của Trung Quốc để mặc? Dựng tượng một vị vua Việt Nam mà lại mặc trang phục Trung Quốc như vậy, rõ ràng là không ổn.
+ Vậy giải pháp trong những trường hợp này là gì? Chẳng lẽ chúng ta đành “chịu” như ông nói?
- Chúng ta có thiệt thòi là nguồn tư liệu không có cho nên phải nghiên cứu kỹ càng, thận trọng, phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác trong quá trình phục dựng di sản văn hóa. Khi tôi làm tượng cụ Trần Hưng Đạo ở Nam Định, tôi đi gặp cả hai bác Phan Huy Lê, bác Hà Văn Tấn - hai nhà sử học hàng đầu trong “bộ tứ” của Việt Nam. Mặc dù đều nghiên cứu rất kỹ về đời Trần nhưng hai bác đều nói rằng, “tôi không thể nói với anh là anh làm thế này có giống cụ Trần Hưng Đạo hay không, tôi không thể nói cụ là người cao hay thấp, béo hay gầy, mặc quần áo như thế nào, tôi chịu. Tôi chỉ nói được rằng, tôi có cảm nhận cái này là Trần Hưng Đạo, bởi vì căn cứ vào những kiến thức tôi đã học, những gì tôi đã nghiên cứu thôi. Tôi không thể khẳng định nhưng tôi cảm nhận được cái tinh thần toát ra là một vị tướng của Việt Nam hội đủ các phẩm chất nhân, nghĩa, trí, dũng”.
Tóm lại, khi tư liệu không có, chúng ta làm bằng những nghiên cứu, bằng cảm nhận thôi, đó là những thiệt thòi của chúng ta. Cho nên việc phục dựng di tích, di sản vật thể chúng ta còn may mắn khi còn có những nền móng, tầng lớp văn hóa để làm căn cứ, chứ bây giờ muốn phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta sẽ phải chấp nhận chỉ ở mức tương đối thôi.
NSND Vương Duy Biên trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận. Ảnh: Sơn Hải
+ Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Đề án số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Qua theo dõi ông có thể đánh giá gì về đề án này?
- Như tôi đã nói, có nhiều di sản văn hóa phi vật thể chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, nhiều di tích vật thể nay đã không còn. Cho nên việc chúng ta số hóa được các lễ hội là điều rất tốt, chúng ta sẽ có một kho dữ liệu về di sản văn hóa - ít nhất là vào thời điểm này - để lại cho thế hệ mai sau. Cũng từ những căn cứ này, chắc chắn công tác phục dựng di sản văn hóa sẽ có thêm những thuận lợi không nhỏ.
Đổi mới chăm sóc sức khỏe học đường để phòng bệnh từ sớm
GD&TĐ - Phòng tránh các bệnh không lây nhiễm, chuyên gia khuyến nghị, trường học cần tăng cường giáo dục thể chất để học sinh vận động ít nhất 60 phút/ngày.
2026-04-16 10:31
Xây dựng trường học không khói thuốc: Gia đình - 'Hàng rào' quan trọng
GD&TĐ - Sự gắn kết chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh sẽ tạo nên 'hàng rào' vững chắc, giúp quản lý học sinh hiệu quả cả trong và ngoài trường học.
2026-04-16 10:30
3 đội Robotics LSTS đại diện cho tài năng Việt Nam chinh phục VEX World Championship 2026
Từ ngày 21 - 30/4, 3 đội Robotics LSTS - 3 đội xuất sắc đại diện cho tài năng Việt Nam sẽ chính thức lên đường chinh phục VEX World Championship 2026.
2026-04-16 10:22
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non: Nâng chất đội ngũ từ 3 nhóm tiêu chuẩn
GD&TĐ - Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư số 28/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư số 28).
2026-04-16 10:22
Doanh nghiệp ‘trải thảm đỏ’ đón sinh viên EPU với cơ hội việc làm lương hấp dẫn
GD&TĐ - Ngày 16/4, Trường Đại học Điện lực (EPU) tổ chức ngày hội tuyển dụng thu hút nhiều doanh nghiệp lớn với hàng nghìn cơ hội việc làm cho sinh viên.
2026-04-16 10:21
Trang bị kỹ năng phòng đuối nước, bảo đảm an toàn cho học sinh
GD&TĐ - Trước kỳ nghỉ hè, trường học ở Phú Thọ chú trọng trang bị kỹ năng phòng đuối nước cho học sinh.
2026-04-16 10:20
Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc tại sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt quốc gia
GD&TĐ - Năm học 2025-2026, tỉnh Phú Thọ đứng thứ 2 toàn quốc về số lượng và chất lượng giải sân chơi Trạng nguyên Tiếng Việt trên internet cấp quốc gia.
2026-04-16 10:20
Tái định hình dạy và học Toán trong kỷ nguyên số
GD&TĐ - Các nhà toán học nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải đổi mới dạy và học Toán để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong thời đại AI và công nghệ.
2026-04-16 10:11
Phân luồng sau THCS: Quyền chọn đã rõ, cần tư vấn trúng
GD&TĐ - Thông tư 16/TT-BGDĐT nhấn mạnh nguyên tắc phân luồng không ép buộc, dựa trên năng lực và nguyện vọng học sinh.
2026-04-16 10:05
Giáo sư trẻ nhất Việt Nam nói thẳng về ồn ào giải Nhất khoa học kỹ thuật: Đừng lấy vài 'ngôi sao' che phần nền giáo dục
(CLO) Giữa tranh cãi quanh dự án đạt giải Nhất cuộc thi Khoa học kỹ thuật cấp quốc gia, GS.TS Lê Anh Vinh cho rằng điều đáng suy ngẫm không nằm ở một vụ việc riêng lẻ, mà ở cách giáo dục phổ thông đang tiếp cận nghiên cứu khoa học: Xây nền cho số đông học sinh hay chỉ tập trung vào những thành tích mang tính biểu tượng.