Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Đánh giá học sinh trong kỷ nguyên số: Cần 'thước đo' mới

2026/10/02 15:16

GD&TĐ - Trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một phần phổ biến trong quá trình học tập của học sinh, đặt ra yêu cầu mới đối với giáo viên trong nhận diện, đánh giá sản phẩm và năng lực thực sự của người học.



Nhận diện tư duy thật phía sau sản phẩm học tập

Công bố kết quả PISA 2025 mới đây cho thấy mức độ sử dụng AI của học sinh trong học tập đã trở nên phổ biến. Trong số học sinh tham gia khảo sát, 94% sử dụng chatbot AI để hỗ trợ học tập; 82% dùng AI để nghiên cứu sơ bộ một chủ đề mới; 86% sử dụng để tóm tắt văn bản và 88% dùng để soạn thảo văn bản cho bài tập. Khoảng 70% học sinh cho biết đã được học cách đánh giá nội dung do AI tạo ra.
Thực tế này đặt ra yêu cầu mới với giáo viên trong xác định mức độ đóng góp, tư duy và năng lực thực sự của học sinh khi có sự hỗ trợ của công nghệ.
Theo cô Phạm Nguyễn Trang Ngân - giáo viên Trường THPT A Lưới (TP Huế), AI đang làm thay đổi nhanh chóng cách học sinh tìm kiếm thông tin, hình thành ý tưởng và tạo ra sản phẩm học tập. Từ thực tế trực tiếp sử dụng các công cụ AI trong dạy học, đồng thời hướng dẫn học sinh thực hiện các dự án STEM và nghiên cứu khoa học kỹ thuật, cô nhận thấy công nghệ này mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra những vấn đề mới trong đánh giá.
Khó khăn lớn nhất, theo cô Trang Ngân, không nằm ở việc học sinh sử dụng AI, mà là làm thế nào để đánh giá công bằng khi AI trở thành một phần của quá trình học tập. Đặc biệt, với học sinh ở trường vùng cao, điều kiện tiếp cận công nghệ và kỹ năng sử dụng công nghệ không hoàn toàn đồng đều. Có học sinh sử dụng AI thành thạo, nhưng cũng có em còn hạn chế về kỹ năng tìm kiếm, kiểm chứng và khai thác thông tin. Vì vậy, nếu giáo viên chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng, việc đánh giá có thể chưa phản ánh đúng năng lực và nỗ lực của từng học sinh.
Từ thực tiễn này, cô Trang Ngân cho rằng cần chuyển từ tư duy “phát hiện AI” sang đánh giá năng lực của học sinh trong quá trình sử dụng AI.
Khi hướng dẫn học sinh thực hiện một sản phẩm, giáo viên có thể yêu cầu các em lưu lại quá trình hình thành sản phẩm, gồm ý tưởng ban đầu, câu hỏi đặt ra cho AI, thông tin AI cung cấp, cách kiểm chứng, những nội dung đã chỉnh sửa và lý do chỉnh sửa. Sau đó, học sinh phải trực tiếp trình bày và bảo vệ sản phẩm của mình.
Khi đó, AI không đơn thuần là một “vấn đề” mà giáo viên phải tìm cách kiểm soát. AI trở thành công cụ để chúng ta đánh giá năng lực số, năng lực tư duy, khả năng kiểm chứng thông tin, tính sáng tạo và tính trung thực của học sinh.
“Tôi cho rằng, đây chính là thay đổi quan trọng nhất đối với giáo viên trong thời đại AI: Không phải tìm cách ngăn học sinh sử dụng AI, mà phải giúp các em sử dụng AI có trách nhiệm, tư duy và khả năng kiểm soát. Bởi cuối cùng, điều chúng ta cần đánh giá không phải là một sản phẩm được tạo ra đẹp đến mức nào, mà đằng sau sản phẩm đó, học sinh suy nghĩ như thế nào, học được gì và có đủ năng lực để chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình hay không”, cô Phạm Nguyễn Trang Ngân chia sẻ.
Ảnh minh họa ITN.


Phát triển năng lực kết hợp chuyên môn sư phạm và tư duy công nghệ

Thầy Nguyễn Phương Bắc - Tổ trưởng Tổ Ngữ văn, Trường THCS Lâm Thao (xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh) cho rằng, để nhận diện và đánh giá sản phẩm học tập có sự hỗ trợ của AI, giáo viên không chỉ cần biết sử dụng công cụ AI mà còn phải phát triển hệ thống năng lực kết hợp giữa chuyên môn sư phạm, tư duy công nghệ và năng lực đánh giá theo hướng đổi mới.
Trước hết là năng lực hiểu biết về AI trong giáo dục. Giáo viên cần nhận biết một số dấu hiệu cho thấy sản phẩm có sự hỗ trợ của AI như câu văn quá trau chuốt, thiếu dấu ấn cá nhân; nội dung chung chung, thiếu trải nghiệm thực tế; có thông tin chưa chính xác nhưng được trình bày tự tin hoặc cấu trúc bài viết giống các mẫu có sẵn. Cùng đó, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức đầy đủ rằng AI là công cụ hỗ trợ học tập, không phải công cụ làm thay người học.
Tiếp theo, năng lực đánh giá phù hợp với môi trường có AI. Theo thầy Bắc, giáo viên cần quan tâm đến ý tưởng, quá trình sử dụng AI để thực hiện nhiệm vụ học tập, tính chính xác của sản phẩm cũng như khả năng thuyết trình, phản biện của học sinh khi trình bày sản phẩm.
Thứ ba, năng lực đánh giá quá trình thay vì chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng. Trong môi trường có AI, sản phẩm cuối cùng có thể tốt nhưng chưa phản ánh năng lực thực sự của học sinh. Giáo viên cần quan tâm nhật ký học tập, các bản nháp trước và sau khi dùng AI, cách học sinh giải thích lựa chọn của mình và khả năng trình bày, bảo vệ sản phẩm.
Thứ tư, năng lực nhận diện tư duy thật của học sinh. Giáo viên cần phát hiện sản phẩm thể hiện hiểu biết thật hay chỉ là sao chép; học sinh có khả năng giải thích nội dung hay không; mức độ đóng góp cá nhân trong sản phẩm. Một sản phẩm tốt trong thời đại AI không nhất thiết “không có AI”, mà là sản phẩm thể hiện học sinh biết dùng AI như một công cụ hỗ trợ tư duy, không thay thế tư duy.
Thứ năm, năng lực kiểm chứng thông tin và đạo đức sử dụng AI. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh kiểm tra độ chính xác của câu trả lời AI, không sao chép nguyên văn nội dung AI tạo ra; đồng thời, tôn trọng bản quyền hình ảnh, dữ liệu và minh bạch khi có sử dụng AI.
Thứ sáu, năng lực ứng dụng công nghệ để hỗ trợ đánh giá. Giáo viên có thể sử dụng công cụ kiểm tra sự tương đồng nội dung, công cụ phản hồi tự động, AI hỗ trợ xây dựng rubric đánh giá, công cụ phân tích tiến trình học tập… Tuy nhiên, AI chỉ là trợ lý đánh giá, quyết định cuối cùng vẫn cần dựa trên nhận định chuyên môn của giáo viên.
“Có thể nói, trong thời đại AI, nhiệm vụ của giáo viên không phải là phát hiện học sinh có dùng AI hay không, mà là đánh giá được học sinh đã tư duy như thế nào khi sử dụng AI”, thầy Nguyễn Phương Bắc cho hay.

Cô Phạm Nguyễn Trang Ngân trong giờ dạy Vật lí. Ảnh: NVCC


Nhận diện tư duy thật phía sau sản phẩm học tập

Công bố kết quả PISA 2025 mới đây cho thấy mức độ sử dụng AI của học sinh trong học tập đã trở nên phổ biến. Trong số học sinh tham gia khảo sát, 94% sử dụng chatbot AI để hỗ trợ học tập; 82% dùng AI để nghiên cứu sơ bộ một chủ đề mới; 86% sử dụng để tóm tắt văn bản và 88% dùng để soạn thảo văn bản cho bài tập. Khoảng 70% học sinh cho biết đã được học cách đánh giá nội dung do AI tạo ra.
Thực tế này đặt ra yêu cầu mới với giáo viên trong xác định mức độ đóng góp, tư duy và năng lực thực sự của học sinh khi có sự hỗ trợ của công nghệ.
Theo cô Phạm Nguyễn Trang Ngân - giáo viên Trường THPT A Lưới (TP Huế), AI đang làm thay đổi nhanh chóng cách học sinh tìm kiếm thông tin, hình thành ý tưởng và tạo ra sản phẩm học tập. Từ thực tế trực tiếp sử dụng các công cụ AI trong dạy học, đồng thời hướng dẫn học sinh thực hiện các dự án STEM và nghiên cứu khoa học kỹ thuật, cô nhận thấy công nghệ này mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng tạo ra những vấn đề mới trong đánh giá.
Khó khăn lớn nhất, theo cô Trang Ngân, không nằm ở việc học sinh sử dụng AI, mà là làm thế nào để đánh giá công bằng khi AI trở thành một phần của quá trình học tập. Đặc biệt, với học sinh ở trường vùng cao, điều kiện tiếp cận công nghệ và kỹ năng sử dụng công nghệ không hoàn toàn đồng đều. Có học sinh sử dụng AI thành thạo, nhưng cũng có em còn hạn chế về kỹ năng tìm kiếm, kiểm chứng và khai thác thông tin. Vì vậy, nếu giáo viên chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng, việc đánh giá có thể chưa phản ánh đúng năng lực và nỗ lực của từng học sinh.
Từ thực tiễn này, cô Trang Ngân cho rằng cần chuyển từ tư duy “phát hiện AI” sang đánh giá năng lực của học sinh trong quá trình sử dụng AI.
Khi hướng dẫn học sinh thực hiện một sản phẩm, giáo viên có thể yêu cầu các em lưu lại quá trình hình thành sản phẩm, gồm ý tưởng ban đầu, câu hỏi đặt ra cho AI, thông tin AI cung cấp, cách kiểm chứng, những nội dung đã chỉnh sửa và lý do chỉnh sửa. Sau đó, học sinh phải trực tiếp trình bày và bảo vệ sản phẩm của mình.
Khi đó, AI không đơn thuần là một “vấn đề” mà giáo viên phải tìm cách kiểm soát. AI trở thành công cụ để chúng ta đánh giá năng lực số, năng lực tư duy, khả năng kiểm chứng thông tin, tính sáng tạo và tính trung thực của học sinh.
“Tôi cho rằng, đây chính là thay đổi quan trọng nhất đối với giáo viên trong thời đại AI: Không phải tìm cách ngăn học sinh sử dụng AI, mà phải giúp các em sử dụng AI có trách nhiệm, tư duy và khả năng kiểm soát. Bởi cuối cùng, điều chúng ta cần đánh giá không phải là một sản phẩm được tạo ra đẹp đến mức nào, mà đằng sau sản phẩm đó, học sinh suy nghĩ như thế nào, học được gì và có đủ năng lực để chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình hay không”, cô Phạm Nguyễn Trang Ngân chia sẻ.
Ảnh minh họa ITN.


Phát triển năng lực kết hợp chuyên môn sư phạm và tư duy công nghệ

Thầy Nguyễn Phương Bắc - Tổ trưởng Tổ Ngữ văn, Trường THCS Lâm Thao (xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh) cho rằng, để nhận diện và đánh giá sản phẩm học tập có sự hỗ trợ của AI, giáo viên không chỉ cần biết sử dụng công cụ AI mà còn phải phát triển hệ thống năng lực kết hợp giữa chuyên môn sư phạm, tư duy công nghệ và năng lực đánh giá theo hướng đổi mới.
Trước hết là năng lực hiểu biết về AI trong giáo dục. Giáo viên cần nhận biết một số dấu hiệu cho thấy sản phẩm có sự hỗ trợ của AI như câu văn quá trau chuốt, thiếu dấu ấn cá nhân; nội dung chung chung, thiếu trải nghiệm thực tế; có thông tin chưa chính xác nhưng được trình bày tự tin hoặc cấu trúc bài viết giống các mẫu có sẵn. Cùng đó, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức đầy đủ rằng AI là công cụ hỗ trợ học tập, không phải công cụ làm thay người học.
Tiếp theo, năng lực đánh giá phù hợp với môi trường có AI. Theo thầy Bắc, giáo viên cần quan tâm đến ý tưởng, quá trình sử dụng AI để thực hiện nhiệm vụ học tập, tính chính xác của sản phẩm cũng như khả năng thuyết trình, phản biện của học sinh khi trình bày sản phẩm.
Thứ ba, năng lực đánh giá quá trình thay vì chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng. Trong môi trường có AI, sản phẩm cuối cùng có thể tốt nhưng chưa phản ánh năng lực thực sự của học sinh. Giáo viên cần quan tâm nhật ký học tập, các bản nháp trước và sau khi dùng AI, cách học sinh giải thích lựa chọn của mình và khả năng trình bày, bảo vệ sản phẩm.
Thứ tư, năng lực nhận diện tư duy thật của học sinh. Giáo viên cần phát hiện sản phẩm thể hiện hiểu biết thật hay chỉ là sao chép; học sinh có khả năng giải thích nội dung hay không; mức độ đóng góp cá nhân trong sản phẩm. Một sản phẩm tốt trong thời đại AI không nhất thiết “không có AI”, mà là sản phẩm thể hiện học sinh biết dùng AI như một công cụ hỗ trợ tư duy, không thay thế tư duy.
Thứ năm, năng lực kiểm chứng thông tin và đạo đức sử dụng AI. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh kiểm tra độ chính xác của câu trả lời AI, không sao chép nguyên văn nội dung AI tạo ra; đồng thời, tôn trọng bản quyền hình ảnh, dữ liệu và minh bạch khi có sử dụng AI.
Thứ sáu, năng lực ứng dụng công nghệ để hỗ trợ đánh giá. Giáo viên có thể sử dụng công cụ kiểm tra sự tương đồng nội dung, công cụ phản hồi tự động, AI hỗ trợ xây dựng rubric đánh giá, công cụ phân tích tiến trình học tập… Tuy nhiên, AI chỉ là trợ lý đánh giá, quyết định cuối cùng vẫn cần dựa trên nhận định chuyên môn của giáo viên.
“Có thể nói, trong thời đại AI, nhiệm vụ của giáo viên không phải là phát hiện học sinh có dùng AI hay không, mà là đánh giá được học sinh đã tư duy như thế nào khi sử dụng AI”, thầy Nguyễn Phương Bắc cho hay.

Chia sẻ
đánh giá học sinh trong kỷ nguyên sốcần thước đo mớitrí tuệ nhân tạo AItrí tuệ nhân tạo trong học tậpyêu cầu mới với giáo viênnhận diện đánh giá sản phẩmnăng lực thực sự người họccông bố kết quả PISA 2025
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/10/02 06:48 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Quảng Trị quy định chi tiết các khoản thu, trường học không được thu thêm
Giáo dục - Học đường

Quảng Trị quy định chi tiết các khoản thu, trường học không được thu thêm

Nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó từ đổi mới cách dạy và học
Giáo dục - Học đường

Nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó từ đổi mới cách dạy và học

Chương trình mầm non mới khơi mở năng lực trẻ qua trải nghiệm
Giáo dục - Học đường

Chương trình mầm non mới khơi mở năng lực trẻ qua trải nghiệm

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững
Giáo dục - Học đường

Thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục
Giáo dục - Học đường

Đắk Lắk phê duyệt kết quả xét thăng hạng cho hơn 3.200 viên chức giáo dục

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu
Giáo dục - Học đường

Mở cửa tri thức từ những ngôi trường nội trú liên cấp biên giới Lai Châu

Mới nhất

2026-10-16 03:49

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học

GD&TĐ - Đào tạo ngành Sư phạm tiếng Mông mở ra hướng đi mới trong đào tạo nguồn nhân lực giáo dục vùng cao, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa.

Giữ tiếng Mông từ giảng đường đại học
2026-10-16 03:49

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai

GD&TĐ - Để triển khai giáo dục STEM hiệu quả cần có sự đồng bộ giữa chương trình giảng dạy, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và phương pháp đánh giá.

Giáo dục STEM trao cơ hội cho học sinh tự kiến tạo tương lai
2026-10-16 03:48

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT dự thảo quy định quản lý nhiệm vụ KHCN, đổi mới sáng tạo trong khuôn khổ hợp tác quốc tế theo hình thức hợp tác song phương.

Coi trọng giá trị hợp tác quốc tế trong nhiệm vụ khoa học song phương
2026-10-16 03:48

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo

GD&TĐ - Các chuyên gia kiến nghị giải pháp để trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.

Đại học phải trở thành động lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
2026-10-16 03:48

Ra mắt mô hình “Nhà an toàn cho phụ nữ và trẻ em” ở Hưng Yên

GD&TĐ - Mô hình nhằm kịp thời phát hiện, hỗ trợ các trường hợp có nguy cơ bị bạo lực, xâm hại hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn.

Ra mắt mô hình “Nhà an toàn cho phụ nữ và trẻ em” ở Hưng Yên
2026-10-16 03:45

Ninh Bình tăng cường dạy và học nhiều ngoại ngữ ngoài tiếng Anh

GD&TĐ - Ninh Bình triển khai lộ trình tăng cường dạy và học nhiều ngoại ngữ ngoài tiếng Anh, gắn với nhu cầu người học và phát triển nguồn nhân lực.

Ninh Bình tăng cường dạy và học nhiều ngoại ngữ ngoài tiếng Anh
2026-10-16 03:44

Phú Thọ vinh danh khuyến học, khuyến tài và phát động học tập suốt đời năm 2026

GD&TĐ - Tỉnh Phú Thọ vinh danh các tập thể, cá nhân tiêu biểu và phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026.

Phú Thọ vinh danh khuyến học, khuyến tài và phát động học tập suốt đời năm 2026
2026-10-16 03:43

Bản đồ Equal Earth: Bài học nhìn thế giới bằng tư duy mở

GD&TĐ - Sự kiện Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua Nghị quyết khuyến khích sử dụng phép chiếu bản đồ Equal Earth không chỉ là một bước ngoặt về bản đồ học, mà còn mở ra cơ hội lớn cho đổi mới giáo dục.

Bản đồ Equal Earth: Bài học nhìn thế giới bằng tư duy mở
2026-10-16 03:43

Giáo dục giúp người học làm chủ AI

GD&TĐ - Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, trang bị cho người học đạo đức, trách nhiệm trong sử dụng AI.

Giáo dục giúp người học làm chủ AI
2026-10-16 03:42

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh

GD&TĐ - Trường THPT Hoàng Long (Hà Nội) chú trọng phát triển ngoại ngữ, công nghệ, tư duy STEM, kỹ năng, hoạt động trải nghiệm để nâng cao chất lượng giáo dục.

Nâng cao chất lượng giáo dục từ sự tiến bộ của từng học sinh