Giáo dục dinh dưỡng học đường: Nhiệm vụ không thể xem nhẹ
2026/10/05 14:24
GD&TĐ - Thực tế cho thấy, giáo dục dinh dưỡng cho học sinh là nhiệm vụ cấp thiết của nhà trường, góp phần cải thiện thể chất và sức khỏe lâu dài cho thế hệ trẻ.
Chênh lệch từ con số
Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Hướng dẫn tổ chức giáo dục dinh dưỡng tại các trường tiểu học Việt Nam theo phương pháp Nhật Bản”, ông Lý Quốc Biên – Trung tâm Nghiên cứu Phát triển chương trình và đánh giá giáo dục (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam) cùng các cộng sự cho biết, theo dữ liệu từ Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2019 - 2020 do Bộ Y tế công bố, tỷ lệ trẻ 5 - 19 tuổi bị thừa cân ở Việt Nam đã tăng từ 8,5% lên khoảng 19%, trong khi tỷ lệ béo phì tăng từ 2,5% lên trên 8%. Xu hướng này đặt thế hệ trẻ trước nguy cơ sớm mắc các bệnh mạn tính không lây như tiểu đường, tim mạch, rối loạn chuyển hóa.
Mặt khác, tình trạng suy dinh dưỡng vẫn kéo dài dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn, miền núi và khu vực khó khăn. Mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm còn khoảng 19,6% vào cuối thập kỷ trước, con số này tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn ở mức cao (khoảng 38% tại miền núi và tới 44% ở vùng đặc biệt khó khăn theo điều tra năm 2020). Nghĩa là, cứ 2 - 3 trẻ em ở vùng khó khăn thì có 1 trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi, trong khi cũng với tỷ lệ đó, tại các đô thị lớn lại là trẻ thừa cân, béo phì.
Sự chênh lệch này phản ánh rõ bất bình đẳng về điều kiện kinh tế và khả năng tiếp cận thực phẩm dinh dưỡng an toàn giữa các vùng miền. Bên cạnh tình trạng thừa – thiếu dinh dưỡng, thói quen ăn uống thiếu khoa học của một bộ phận học sinh cũng là thách thức đáng lưu tâm. Nhiều trẻ có xu hướng bỏ bữa sáng, lười ăn rau xanh, ưa thực phẩm nhiều đường, muối và thiếu kiến thức về an toàn thực phẩm. Hệ quả là, dù ở hai thái cực khác nhau (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), trẻ em đều có nguy cơ đối mặt với các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.
Ông Lý Quốc Biên cho biết, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh báo thế giới đang đối mặt với “gánh nặng kép” về dinh dưỡng, đặc biệt tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Việt Nam không nằm ngoài xu thế này: trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ tử vong cao hoặc chậm phát triển, trong khi trẻ thừa cân, béo phì lại dễ mắc bệnh mạn tính sớm.
Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp bách đối với hệ thống giáo dục trong việc can thiệp hiệu quả thông qua giáo dục dinh dưỡng, giúp thế hệ trẻ hình thành lối sống ăn uống lành mạnh, khoa học, từng bước thoát khỏi vòng xoắn bệnh lý kép hiện nay.
Cần bảo đảm thực đơn bữa ăn khoa học, hợp lý. Ảnh: INT
Lồng ghép vào các môn học
Trong Chương trình GDPT 2018, ở cấp tiểu học, thay vì được xây dựng thành một môn học độc lập, giáo dục dinh dưỡng được triển khai theo hướng tích hợp, lồng ghép vào các môn học và hoạt động giáo dục liên quan. Nói cách khác, các kiến thức và kỹ năng về dinh dưỡng được đan cài một cách tự nhiên trong nội dung một số môn như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, cũng như thông qua các hoạt động ngoại khóa của nhà trường.
Theo ông Lý Quốc Biên, cách tiếp cận này được khẳng định trong định hướng chương trình mới: “Ở cấp tiểu học, giáo dục dinh dưỡng được tích hợp vào nội dung các môn học”. Ưu điểm của phương thức tích hợp là giúp kiến thức dinh dưỡng được truyền tải đa dạng dưới nhiều góc độ: từ khía cạnh sinh học (trong môn Khoa học), vận động (trong Giáo dục thể chất) đến văn hóa, xã hội (trong môn Tự nhiên và Xã hội và Hoạt động trải nghiệm). Điều này góp phần tăng tính thực tiễn, gắn nội dung dinh dưỡng với đời sống hằng ngày của học sinh.
Song, thách thức đặt ra là làm sao bảo đảm tính hệ thống và hiệu quả của giáo dục dinh dưỡng. Việc mỗi môn học chỉ lồng ghép một phần nội dung có thể dẫn đến tình trạng tản mạn, thiếu liên kết giữa các khối lớp, khiến học sinh có thể học lặp lại hoặc bỏ sót một số chủ điểm quan trọng.
Ngoài ra, do không có môn học riêng về dinh dưỡng, trách nhiệm của giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức còn dàn trải, hiệu quả hạn chế. Trong khi đó, giáo dục dinh dưỡng chỉ thực sự có ý nghĩa khi kiến thức được chuyển hóa thành hành vi, giúp học sinh hình thành thói quen ăn uống lành mạnh hằng ngày.
Tuy nhiên, theo ông Biên, đây là điểm khó trong triển khai, bởi thay đổi hành vi cần thời gian, sự kèm cặp và môi trường thực hành liên tục – những yếu tố mà phương thức tích hợp trong giờ học chính khóa chưa đáp ứng đầy đủ. Điều này cho thấy, giáo dục dinh dưỡng ở tiểu học tuy đã có mặt trong chương trình, nhưng chưa đủ đậm nét và vẫn thiếu cơ chế bảo đảm để học sinh hiểu đúng, thực hành đúng những kiến thức đã học.
Một bữa ăn sáng miễn phí dành cho thầy – trò Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT Nà Hỳ (Điện Biên). Ảnh: NTCC
“Chìa khóa” phát triển toàn diện
Theo GS.TS Lê Anh Vinh – Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục dinh dưỡng là “chìa khóa” giúp học sinh phát triển toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh mô hình dạy học 2 buổi/ngày đang được mở rộng từ tiểu học lên THCS và định hướng tới THPT. Khi học sinh sinh hoạt cả ngày tại trường, việc xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn gắn với chiến lược phát triển thể chất, hình thành lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Nhật Bản đã luật hóa dinh dưỡng học đường từ hơn 50 năm trước, đưa bữa ăn học đường trở thành một phần của văn hóa và nền tảng sức khỏe quốc gia. Tuy nhiên, khảo sát do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản và Tập đoàn Ajinomoto thực hiện cho thấy, thói quen ăn uống của học sinh tiểu học tại Việt Nam còn nhiều bất cập.
“Tình trạng lãng phí thực phẩm tại các trường vẫn ở mức cao; học sinh có xu hướng ưa chuộng đồ ăn nhanh, món chiên xào, trong khi ít sử dụng thực phẩm lành mạnh như rau, cá. Đáng chú ý, dù thực đơn được xây dựng cân đối dinh dưỡng, nhưng nếu học sinh không ăn đủ khẩu phần, mục tiêu dinh dưỡng vẫn khó đạt được”, GS.TS Lê Anh Vinh trăn trở. Ông đồng thời nhấn mạnh cần xác định giáo dục dinh dưỡng là nhiệm vụ trọng tâm, tác động trực tiếp đến nhận thức của học sinh và giáo viên.
Từ thực tiễn, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, việc xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn theo phương pháp Nhật Bản, phù hợp điều kiện Việt Nam là bước đi cần thiết nhằm chuẩn hóa nội dung và cách thức triển khai. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa phương thức tiếp cận, lồng ghép kiến thức dinh dưỡng vào bữa ăn hằng ngày, hoạt động trải nghiệm, trò chơi và ngoại khóa, thay vì giảng dạy khô cứng.
Cùng đó, cần nghiên cứu mô hình mỗi trường có chuyên gia dinh dưỡng phụ trách, từ xây dựng thực đơn đến tổ chức giáo dục, nhằm nâng cao hiệu quả triển khai. “Cốt lõi là giúp học sinh hình thành nhận thức đúng và thói quen ăn uống lành mạnh, bền vững”, GS.TS Lê Anh Vinh khẳng định.
Ông Lý Quốc Biên cho biết, tài liệu “Hướng dẫn tổ chức giáo dục dinh dưỡng tại các trường tiểu học Việt Nam theo phương pháp Nhật Bản” được cấu trúc thành 4 chương, cung cấp hướng dẫn cụ thể cho giáo viên, cán bộ quản lý trong xây dựng kế hoạch và thiết kế bài dạy minh họa.
Tài liệu được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, qua đó tạo chuyển biến tích cực trong kiến thức và hành vi của học sinh. Mục tiêu cuối cùng là hình thành thói quen ăn uống bền vững, xây dựng thế hệ tương lai khỏe mạnh, phát triển toàn diện.
Bộ tài liệu giáo dục dinh dưỡng tích hợp trong môn Giáo dục thể chất được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, thực tiễn, phù hợp đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học. TS Nguyễn Nho Huy – Phó Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) nhận xét, nội dung không mang tính lý thuyết đơn thuần mà gắn với các hoạt động vận động cụ thể, giúp học sinh “học mà chơi, chơi mà học”, tiếp thu kiến thức dinh dưỡng tự nhiên, hiệu quả.
Điểm nổi bật của tài liệu là mục tiêu “kép”: vừa phát triển thể chất, rèn luyện sức bền, sự dẻo dai, vừa hình thành nhận thức đúng về dinh dưỡng. Học sinh được trang bị kiến thức cơ bản như vai trò của nước sau vận động, tầm quan trọng của chế độ ăn đủ chất đối với phát triển thể lực và trí tuệ. Theo TS Nguyễn Nho Huy, việc triển khai thí điểm tại các trường thực nghiệm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả, từ đó hoàn thiện và nhân rộng mô hình giáo dục dinh dưỡng trong trường học trên phạm vi toàn quốc.
Nhấn mạnh vai trò của giáo viên giáo dục thể chất, TS Nguyễn Nho Huy cho rằng, giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là hình mẫu trực quan, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục khi lồng ghép nội dung dinh dưỡng trong hoạt động thực hành. Theo đó, nhà trường và giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh nội dung, phương pháp tổ chức phù hợp điều kiện thực tế và đặc thù vùng miền.
Khẳng định lứa tuổi học đường là “giai đoạn vàng” để can thiệp toàn diện về dinh dưỡng và vận động, ông Nguyễn Tri Thức – Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh cần tập trung cải thiện dinh dưỡng cho học sinh trong nhà trường. Đây là định hướng chiến lược nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ người Việt Nam.
Trong bối cảnh các ngành, các cấp triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, ông Nguyễn Tri Thức cho rằng việc cải thiện, nâng cao chất lượng bữa ăn học đường là giải pháp quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược, góp phần nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển, hùng cường.
Luật Phòng bệnh năm 2025 sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Luật quy định công tác dinh dưỡng trong phòng bệnh được triển khai xuyên suốt vòng đời, đặc biệt chú trọng giai đoạn từ bào thai đến khi trẻ 24 tháng tuổi (1.000 ngày đầu đời). Theo đó, học sinh các cấp học được tuyên truyền, giáo dục về dinh dưỡng; được bảo đảm dinh dưỡng thông qua bữa ăn học đường phù hợp từng độ tuổi và được đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Đây được xem là công cụ pháp lý quan trọng, góp phần đưa công tác dinh dưỡng học đường vào nền nếp, tiến tới chuẩn hóa trên phạm vi cả nước.
Một bữa ăn học đường của học sinh TP Đà Nẵng. Ảnh: INT
Chênh lệch từ con số
Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn tài liệu “Hướng dẫn tổ chức giáo dục dinh dưỡng tại các trường tiểu học Việt Nam theo phương pháp Nhật Bản”, ông Lý Quốc Biên – Trung tâm Nghiên cứu Phát triển chương trình và đánh giá giáo dục (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam) cùng các cộng sự cho biết, theo dữ liệu từ Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc năm 2019 - 2020 do Bộ Y tế công bố, tỷ lệ trẻ 5 - 19 tuổi bị thừa cân ở Việt Nam đã tăng từ 8,5% lên khoảng 19%, trong khi tỷ lệ béo phì tăng từ 2,5% lên trên 8%. Xu hướng này đặt thế hệ trẻ trước nguy cơ sớm mắc các bệnh mạn tính không lây như tiểu đường, tim mạch, rối loạn chuyển hóa.
Mặt khác, tình trạng suy dinh dưỡng vẫn kéo dài dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn, miền núi và khu vực khó khăn. Mặc dù tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm còn khoảng 19,6% vào cuối thập kỷ trước, con số này tại các vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn ở mức cao (khoảng 38% tại miền núi và tới 44% ở vùng đặc biệt khó khăn theo điều tra năm 2020). Nghĩa là, cứ 2 - 3 trẻ em ở vùng khó khăn thì có 1 trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi, trong khi cũng với tỷ lệ đó, tại các đô thị lớn lại là trẻ thừa cân, béo phì.
Sự chênh lệch này phản ánh rõ bất bình đẳng về điều kiện kinh tế và khả năng tiếp cận thực phẩm dinh dưỡng an toàn giữa các vùng miền. Bên cạnh tình trạng thừa – thiếu dinh dưỡng, thói quen ăn uống thiếu khoa học của một bộ phận học sinh cũng là thách thức đáng lưu tâm. Nhiều trẻ có xu hướng bỏ bữa sáng, lười ăn rau xanh, ưa thực phẩm nhiều đường, muối và thiếu kiến thức về an toàn thực phẩm. Hệ quả là, dù ở hai thái cực khác nhau (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng), trẻ em đều có nguy cơ đối mặt với các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.
Ông Lý Quốc Biên cho biết, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cảnh báo thế giới đang đối mặt với “gánh nặng kép” về dinh dưỡng, đặc biệt tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình. Việt Nam không nằm ngoài xu thế này: trẻ suy dinh dưỡng có nguy cơ tử vong cao hoặc chậm phát triển, trong khi trẻ thừa cân, béo phì lại dễ mắc bệnh mạn tính sớm.
Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp bách đối với hệ thống giáo dục trong việc can thiệp hiệu quả thông qua giáo dục dinh dưỡng, giúp thế hệ trẻ hình thành lối sống ăn uống lành mạnh, khoa học, từng bước thoát khỏi vòng xoắn bệnh lý kép hiện nay.
Cần bảo đảm thực đơn bữa ăn khoa học, hợp lý. Ảnh: INT
Lồng ghép vào các môn học
Trong Chương trình GDPT 2018, ở cấp tiểu học, thay vì được xây dựng thành một môn học độc lập, giáo dục dinh dưỡng được triển khai theo hướng tích hợp, lồng ghép vào các môn học và hoạt động giáo dục liên quan. Nói cách khác, các kiến thức và kỹ năng về dinh dưỡng được đan cài một cách tự nhiên trong nội dung một số môn như: Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, cũng như thông qua các hoạt động ngoại khóa của nhà trường.
Theo ông Lý Quốc Biên, cách tiếp cận này được khẳng định trong định hướng chương trình mới: “Ở cấp tiểu học, giáo dục dinh dưỡng được tích hợp vào nội dung các môn học”. Ưu điểm của phương thức tích hợp là giúp kiến thức dinh dưỡng được truyền tải đa dạng dưới nhiều góc độ: từ khía cạnh sinh học (trong môn Khoa học), vận động (trong Giáo dục thể chất) đến văn hóa, xã hội (trong môn Tự nhiên và Xã hội và Hoạt động trải nghiệm). Điều này góp phần tăng tính thực tiễn, gắn nội dung dinh dưỡng với đời sống hằng ngày của học sinh.
Song, thách thức đặt ra là làm sao bảo đảm tính hệ thống và hiệu quả của giáo dục dinh dưỡng. Việc mỗi môn học chỉ lồng ghép một phần nội dung có thể dẫn đến tình trạng tản mạn, thiếu liên kết giữa các khối lớp, khiến học sinh có thể học lặp lại hoặc bỏ sót một số chủ điểm quan trọng.
Ngoài ra, do không có môn học riêng về dinh dưỡng, trách nhiệm của giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức còn dàn trải, hiệu quả hạn chế. Trong khi đó, giáo dục dinh dưỡng chỉ thực sự có ý nghĩa khi kiến thức được chuyển hóa thành hành vi, giúp học sinh hình thành thói quen ăn uống lành mạnh hằng ngày.
Tuy nhiên, theo ông Biên, đây là điểm khó trong triển khai, bởi thay đổi hành vi cần thời gian, sự kèm cặp và môi trường thực hành liên tục – những yếu tố mà phương thức tích hợp trong giờ học chính khóa chưa đáp ứng đầy đủ. Điều này cho thấy, giáo dục dinh dưỡng ở tiểu học tuy đã có mặt trong chương trình, nhưng chưa đủ đậm nét và vẫn thiếu cơ chế bảo đảm để học sinh hiểu đúng, thực hành đúng những kiến thức đã học.
Một bữa ăn sáng miễn phí dành cho thầy – trò Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT Nà Hỳ (Điện Biên). Ảnh: NTCC
“Chìa khóa” phát triển toàn diện
Theo GS.TS Lê Anh Vinh – Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, giáo dục dinh dưỡng là “chìa khóa” giúp học sinh phát triển toàn diện, đặc biệt trong bối cảnh mô hình dạy học 2 buổi/ngày đang được mở rộng từ tiểu học lên THCS và định hướng tới THPT. Khi học sinh sinh hoạt cả ngày tại trường, việc xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn gắn với chiến lược phát triển thể chất, hình thành lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Nhật Bản đã luật hóa dinh dưỡng học đường từ hơn 50 năm trước, đưa bữa ăn học đường trở thành một phần của văn hóa và nền tảng sức khỏe quốc gia. Tuy nhiên, khảo sát do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với các chuyên gia Nhật Bản và Tập đoàn Ajinomoto thực hiện cho thấy, thói quen ăn uống của học sinh tiểu học tại Việt Nam còn nhiều bất cập.
“Tình trạng lãng phí thực phẩm tại các trường vẫn ở mức cao; học sinh có xu hướng ưa chuộng đồ ăn nhanh, món chiên xào, trong khi ít sử dụng thực phẩm lành mạnh như rau, cá. Đáng chú ý, dù thực đơn được xây dựng cân đối dinh dưỡng, nhưng nếu học sinh không ăn đủ khẩu phần, mục tiêu dinh dưỡng vẫn khó đạt được”, GS.TS Lê Anh Vinh trăn trở. Ông đồng thời nhấn mạnh cần xác định giáo dục dinh dưỡng là nhiệm vụ trọng tâm, tác động trực tiếp đến nhận thức của học sinh và giáo viên.
Từ thực tiễn, Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho rằng, việc xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn theo phương pháp Nhật Bản, phù hợp điều kiện Việt Nam là bước đi cần thiết nhằm chuẩn hóa nội dung và cách thức triển khai. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa phương thức tiếp cận, lồng ghép kiến thức dinh dưỡng vào bữa ăn hằng ngày, hoạt động trải nghiệm, trò chơi và ngoại khóa, thay vì giảng dạy khô cứng.
Cùng đó, cần nghiên cứu mô hình mỗi trường có chuyên gia dinh dưỡng phụ trách, từ xây dựng thực đơn đến tổ chức giáo dục, nhằm nâng cao hiệu quả triển khai. “Cốt lõi là giúp học sinh hình thành nhận thức đúng và thói quen ăn uống lành mạnh, bền vững”, GS.TS Lê Anh Vinh khẳng định.
Ông Lý Quốc Biên cho biết, tài liệu “Hướng dẫn tổ chức giáo dục dinh dưỡng tại các trường tiểu học Việt Nam theo phương pháp Nhật Bản” được cấu trúc thành 4 chương, cung cấp hướng dẫn cụ thể cho giáo viên, cán bộ quản lý trong xây dựng kế hoạch và thiết kế bài dạy minh họa.
Tài liệu được kỳ vọng góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, qua đó tạo chuyển biến tích cực trong kiến thức và hành vi của học sinh. Mục tiêu cuối cùng là hình thành thói quen ăn uống bền vững, xây dựng thế hệ tương lai khỏe mạnh, phát triển toàn diện.
Bộ tài liệu giáo dục dinh dưỡng tích hợp trong môn Giáo dục thể chất được xây dựng trên nguyên tắc khoa học, thực tiễn, phù hợp đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học. TS Nguyễn Nho Huy – Phó Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) nhận xét, nội dung không mang tính lý thuyết đơn thuần mà gắn với các hoạt động vận động cụ thể, giúp học sinh “học mà chơi, chơi mà học”, tiếp thu kiến thức dinh dưỡng tự nhiên, hiệu quả.
Điểm nổi bật của tài liệu là mục tiêu “kép”: vừa phát triển thể chất, rèn luyện sức bền, sự dẻo dai, vừa hình thành nhận thức đúng về dinh dưỡng. Học sinh được trang bị kiến thức cơ bản như vai trò của nước sau vận động, tầm quan trọng của chế độ ăn đủ chất đối với phát triển thể lực và trí tuệ. Theo TS Nguyễn Nho Huy, việc triển khai thí điểm tại các trường thực nghiệm sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả, từ đó hoàn thiện và nhân rộng mô hình giáo dục dinh dưỡng trong trường học trên phạm vi toàn quốc.
Nhấn mạnh vai trò của giáo viên giáo dục thể chất, TS Nguyễn Nho Huy cho rằng, giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là hình mẫu trực quan, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục khi lồng ghép nội dung dinh dưỡng trong hoạt động thực hành. Theo đó, nhà trường và giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh nội dung, phương pháp tổ chức phù hợp điều kiện thực tế và đặc thù vùng miền.
Khẳng định lứa tuổi học đường là “giai đoạn vàng” để can thiệp toàn diện về dinh dưỡng và vận động, ông Nguyễn Tri Thức – Thứ trưởng Bộ Y tế nhấn mạnh cần tập trung cải thiện dinh dưỡng cho học sinh trong nhà trường. Đây là định hướng chiến lược nhằm nâng cao tầm vóc, thể lực và trí tuệ người Việt Nam.
Trong bối cảnh các ngành, các cấp triển khai Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, ông Nguyễn Tri Thức cho rằng việc cải thiện, nâng cao chất lượng bữa ăn học đường là giải pháp quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược, góp phần nâng cao tầm vóc thế hệ trẻ và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển, hùng cường.
Luật Phòng bệnh năm 2025 sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Luật quy định công tác dinh dưỡng trong phòng bệnh được triển khai xuyên suốt vòng đời, đặc biệt chú trọng giai đoạn từ bào thai đến khi trẻ 24 tháng tuổi (1.000 ngày đầu đời). Theo đó, học sinh các cấp học được tuyên truyền, giáo dục về dinh dưỡng; được bảo đảm dinh dưỡng thông qua bữa ăn học đường phù hợp từng độ tuổi và được đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Đây được xem là công cụ pháp lý quan trọng, góp phần đưa công tác dinh dưỡng học đường vào nền nếp, tiến tới chuẩn hóa trên phạm vi cả nước.
Giáo dục dinh dưỡng học đường: Nhiệm vụ không thể xem nhẹ
GD&TĐ - Thực tế cho thấy, giáo dục dinh dưỡng cho học sinh là nhiệm vụ cấp thiết của nhà trường, góp phần cải thiện thể chất và sức khỏe lâu dài cho thế hệ trẻ.
2026-10-05 07:23
Thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho lao động miền núi
GD&TĐ - Đào tạo nghề gắn với tuyển dụng và việc làm tại chỗ mở thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho lao động miền núi, bổ sung nguồn nhân lực qua đào tạo.
2026-10-05 07:22
Nóng trong tuần: Rà soát, đánh giá nhiệm vụ năm học; điều chỉnh, cập nhật SGK
GD&TĐ - Rà soát nhiệm vụ đầu năm học; điều chỉnh, cập nhật chương trình, SGK; tiếp tục hoàn thiện chính sách là nội dung giáo dục nổi bật tuần qua.
2026-10-05 07:22
Việt Nam thắng lớn tại Kỳ thi Olympic Thiên văn và Vật lý thiên văn quốc tế 2026
GD&TĐ - Chiều 4/10, Thứ trưởng Thường trực Bộ GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng dự Lễ trao giải Kỳ thi Olympic Thiên văn và Vật lý thiên văn quốc tế năm 2026.
2026-10-05 07:21
Trung tâm GDTX Cà Mau tuyên truyền, giáo dục pháp luật ATGT cho học viên
GD&TĐ - Gần 900 học viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên Cà Mau được tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về an toàn giao thông đường bộ.
2026-10-05 07:18
Hà Nội hưởng ứng Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026
GD&TĐ - Ngày 3/10, UBND TP Hà Nội phát động hưởng ứng “Ngày Văn hóa Việt Nam” năm 2026 tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương).
2026-10-05 07:16
Trí tuệ nhân tạo đặt ra yêu cầu mới cho dạy và học tiếng Trung
GD&TĐ - Theo các ngành khoa học, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những hướng tiếp cận mới, thúc đẩy đổi mới nội dung và phương pháp dạy, học tiếng Trung.
2026-10-05 07:15
Gắn đào tạo với thực tiễn, nâng chất lượng dạy học tiếng Mông
GD&TĐ - Không chỉ học lý thuyết, các học viên còn được quan sát, trải nghiệm qua đó nâng cao năng lực nghề nghiệp và hiểu sâu hơn về văn hóa.
2026-10-05 07:13
Từ hiểu mình, hiểu nghề đến lựa chọn ngành học phù hợp
GD&TĐ - Chương trình hướng nghiệp đồng hành cùng học sinh lớp 12 nhận diện năng lực, tìm hiểu nghề, lựa chọn ngành học phù hợp tương lai.
2026-10-05 07:13
Giải pháp nào để chuẩn hóa năng lực số cho học sinh trong thời đại AI?
GD&TĐ - Trong thời đại AI, năng lực số không còn là lựa chọn mà là yêu cầu tất yếu, đòi hỏi sự đồng hành của nhà trường, gia đình và học sinh.