Sửa đổi Luật Giáo dục đại học: Kiến tạo hệ thống quản trị tiên tiến
2025/07/01 09:40
GD&TĐ - Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục đại học; xây dựng hệ thống quản trị đại học tiên tiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Đó là một trong 6 nhóm chính sách quan trọng khi sửa đổi Luật Giáo dục đại học.
Từ “quản lý - kiểm soát” sang “kiến tạo - giám sát”
Nhận định về chính sách đưa ra trong dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), bà Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, nhận định: Về mục tiêu, chính sách đã xác định rõ định hướng chuyển vai trò của Nhà nước từ “quản lý - kiểm soát” sang “kiến tạo - giám sát”, tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học đi kèm trách nhiệm giải trình và kiểm định độc lập.
Cùng bám sát định hướng lớn trong các văn kiện Đảng, nhấn mạnh vai trò của đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, tầm nhìn mục tiêu có sự cập nhật, tiệm cận thông lệ quốc tế (quản trị đại học đa bên, mở rộng vai trò hội đồng trường, giám sát dựa trên đầu ra, công khai dữ liệu).
Nội dung chính sách đã xác định vai trò pháp lý cho các loại hình cơ sở giáo dục đại học; tăng cường quyền tự chủ toàn diện: Từ học thuật, tổ chức bộ máy, tài chính, liên kết đào tạo... đặc biệt trong tổ chức chương trình đào tạo, ngoại trừ các ngành đặc thù (y khoa, an ninh, pháp luật).
Đồng thời, đổi mới mô hình quản trị: Thu gọn mô hình hai cấp (trừ đại học quốc gia, đại học vùng); xác định rõ trách nhiệm hiệu trưởng, chủ tịch hội đồng trường, giảm thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Tích hợp quy trình quản lý mở ngành, kiểm định, đăng ký hoạt động đào tạo, góp phần giảm đáng kể tỷ lệ thực hiện các thủ tục hành chính. Hiệu lực quản lý Nhà nước được tăng cường thông qua số hóa quản lý, hệ thống dữ liệu quốc gia, xác thực điện tử, kiểm định chất lượng đầu ra.
Giải pháp thực hiện chính sách có tính khả thi cao, cụ thể: Tận dụng chuyển đổi số làm đòn bẩy đổi mới quản trị; gắn quyền tự chủ với công cụ kiểm định chất lượng độc lập và minh bạch dữ liệu giáo dục; quy định rõ các trường hợp bị đình chỉ, xử lý trách nhiệm với các đơn vị đào tạo yếu kém.
Từ thực tiễn, bà Ngô Thị Phương Lan nêu ra một số hạn chế, như chưa có khung phân loại mức độ tự chủ, việc trao quyền đồng loạt có thể dẫn đến bất bình đẳng giữa các trường. Từ đó đề xuất cần quy định lộ trình phân tầng tự chủ dựa trên kiểm định chất lượng và năng lực nội tại. Ngoài ra, hoạt động giám sát - giải trình chưa cụ thể hóa; cần có cơ chế rõ ràng hậu kiểm và trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Do đó, nên bổ sung điều khoản về công khai thông tin, kiểm tra định kỳ và đánh giá kết quả đầu ra.
Bà Ngô Thị Phương Lan đồng thời nêu thực trạng còn thiếu cơ chế phối hợp liên cấp trong quản lý (mô hình hiện nay có các trường thuộc Bộ, tỉnh, các lực lượng khác nhau...); chưa quy định thống nhất hệ thống dữ liệu toàn ngành, dẫn đến nguy cơ phân tán, khó quản lý hiệu quả chất lượng giáo dục. Từ đó, đề xuất thiết lập cơ chế phối hợp liên thông giữa Bộ - địa phương - các đơn vị chủ quản; tích hợp toàn ngành về cơ sở dữ liệu giáo dục đại học, công khai kết quả kiểm định và tài chính hằng năm.
Ảnh minh họa INT.
Kiến tạo hệ thống giáo dục đại học số, mở, linh hoạt, liên thông
Bày tỏ nhất trí với mục tiêu của chính sách nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến, ông Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhận định: Dự thảo đã làm rõ việc cần thiết thiết lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Phương án đề xuất tăng cường tự chủ và mở rộng phạm vi áp dụng quản trị đa thành phần là phù hợp để giải quyết những tồn tại hiện hành.
Tuy nhiên, ông Bùi Hoài Sơn đề nghị bổ sung quy định cụ thể hơn về phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương trong quản trị đại học, cũng như cơ chế bảo đảm kiểm soát về chất lượng và tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học.
Đồng thời, ông đề nghị làm rõ quy trình chuyển đổi mô hình quản trị hiện hành sang mô hình mới (ví dụ về lộ trình chuyển giao thẩm quyền, xây dựng hội đồng trường); nên quy định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị (cạnh tranh bình đẳng, chất lượng đào tạo, thu hút đầu tư) để giám sát thực thi chính sách. Cùng đó, cần cân nhắc cơ chế hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ trong quản trị đại học để đón đầu xu thế toàn cầu hóa đào tạo.
Cũng cơ bản nhất trí với dự thảo chính sách, tuy nhiên, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến bày tỏ băn khoăn khi vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với cả hệ thống không rõ ràng. Cụ thể: Trong nội dung này đặt ra mục tiêu “kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến”, nhưng hiện không có quy định nào làm rõ cơ cấu và hoạt động của hệ thống này.
“Theo định hướng chung hiện nay trên thế giới và Việt Nam, chúng ta cần kiến tạo một hệ thống giáo dục đại học số, mở, linh hoạt, liên thông, học tập suốt đời, bao gồm các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Tôi cho rằng, để đáp ứng đúng nội dung của chính sách này cần có quy định với nội dung như trên; trong đó các khái niệm “mở”, “linh hoạt”, “liên thông” cần làm rõ. Việc quy định trình độ cao đẳng trong hệ thống giáo dục đại học không thể tránh né, để bảo đảm có cách tiếp cận nhất quán và phù hợp với thông lệ quốc tế trong quan niệm về giáo dục đại học”, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến nêu quan điểm.
Với chính sách nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến, dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đưa ra 5 nội dung: Quản lý hiệu quả hoạt động giáo dục đại học, thống nhất và bao quát các bên tham gia; Tăng cường tự chủ, nâng cao năng lực quản trị của cơ sở giáo dục đại học và hiệu lực quản lý Nhà nước; Đổi mới phương thức quản lý Nhà nước và tối ưu hóa hoạt động của hệ thống giáo dục đại học; Quản lý thống nhất các địa điểm đào tạo, tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học; Thiết lập hệ thống giáo dục đại học công bằng, bình đẳng, chất lượng và hiệu quả; đáp ứng tốt hơn nhu cầu người học.
Sinh viên Trường ĐH Sư phạm, Đại học Đà Nẵng tham gia hoạt động thí nghiệm. Ảnh: NTCC
Đó là một trong 6 nhóm chính sách quan trọng khi sửa đổi Luật Giáo dục đại học.
Từ “quản lý - kiểm soát” sang “kiến tạo - giám sát”
Nhận định về chính sách đưa ra trong dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi), bà Ngô Thị Phương Lan - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, nhận định: Về mục tiêu, chính sách đã xác định rõ định hướng chuyển vai trò của Nhà nước từ “quản lý - kiểm soát” sang “kiến tạo - giám sát”, tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học đi kèm trách nhiệm giải trình và kiểm định độc lập.
Cùng bám sát định hướng lớn trong các văn kiện Đảng, nhấn mạnh vai trò của đại học trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, tầm nhìn mục tiêu có sự cập nhật, tiệm cận thông lệ quốc tế (quản trị đại học đa bên, mở rộng vai trò hội đồng trường, giám sát dựa trên đầu ra, công khai dữ liệu).
Nội dung chính sách đã xác định vai trò pháp lý cho các loại hình cơ sở giáo dục đại học; tăng cường quyền tự chủ toàn diện: Từ học thuật, tổ chức bộ máy, tài chính, liên kết đào tạo... đặc biệt trong tổ chức chương trình đào tạo, ngoại trừ các ngành đặc thù (y khoa, an ninh, pháp luật).
Đồng thời, đổi mới mô hình quản trị: Thu gọn mô hình hai cấp (trừ đại học quốc gia, đại học vùng); xác định rõ trách nhiệm hiệu trưởng, chủ tịch hội đồng trường, giảm thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Tích hợp quy trình quản lý mở ngành, kiểm định, đăng ký hoạt động đào tạo, góp phần giảm đáng kể tỷ lệ thực hiện các thủ tục hành chính. Hiệu lực quản lý Nhà nước được tăng cường thông qua số hóa quản lý, hệ thống dữ liệu quốc gia, xác thực điện tử, kiểm định chất lượng đầu ra.
Giải pháp thực hiện chính sách có tính khả thi cao, cụ thể: Tận dụng chuyển đổi số làm đòn bẩy đổi mới quản trị; gắn quyền tự chủ với công cụ kiểm định chất lượng độc lập và minh bạch dữ liệu giáo dục; quy định rõ các trường hợp bị đình chỉ, xử lý trách nhiệm với các đơn vị đào tạo yếu kém.
Từ thực tiễn, bà Ngô Thị Phương Lan nêu ra một số hạn chế, như chưa có khung phân loại mức độ tự chủ, việc trao quyền đồng loạt có thể dẫn đến bất bình đẳng giữa các trường. Từ đó đề xuất cần quy định lộ trình phân tầng tự chủ dựa trên kiểm định chất lượng và năng lực nội tại. Ngoài ra, hoạt động giám sát - giải trình chưa cụ thể hóa; cần có cơ chế rõ ràng hậu kiểm và trách nhiệm khi xảy ra sai phạm. Do đó, nên bổ sung điều khoản về công khai thông tin, kiểm tra định kỳ và đánh giá kết quả đầu ra.
Bà Ngô Thị Phương Lan đồng thời nêu thực trạng còn thiếu cơ chế phối hợp liên cấp trong quản lý (mô hình hiện nay có các trường thuộc Bộ, tỉnh, các lực lượng khác nhau...); chưa quy định thống nhất hệ thống dữ liệu toàn ngành, dẫn đến nguy cơ phân tán, khó quản lý hiệu quả chất lượng giáo dục. Từ đó, đề xuất thiết lập cơ chế phối hợp liên thông giữa Bộ - địa phương - các đơn vị chủ quản; tích hợp toàn ngành về cơ sở dữ liệu giáo dục đại học, công khai kết quả kiểm định và tài chính hằng năm.
Ảnh minh họa INT.
Kiến tạo hệ thống giáo dục đại học số, mở, linh hoạt, liên thông
Bày tỏ nhất trí với mục tiêu của chính sách nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến, ông Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhận định: Dự thảo đã làm rõ việc cần thiết thiết lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập. Phương án đề xuất tăng cường tự chủ và mở rộng phạm vi áp dụng quản trị đa thành phần là phù hợp để giải quyết những tồn tại hiện hành.
Tuy nhiên, ông Bùi Hoài Sơn đề nghị bổ sung quy định cụ thể hơn về phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý Trung ương và địa phương trong quản trị đại học, cũng như cơ chế bảo đảm kiểm soát về chất lượng và tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học.
Đồng thời, ông đề nghị làm rõ quy trình chuyển đổi mô hình quản trị hiện hành sang mô hình mới (ví dụ về lộ trình chuyển giao thẩm quyền, xây dựng hội đồng trường); nên quy định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản trị (cạnh tranh bình đẳng, chất lượng đào tạo, thu hút đầu tư) để giám sát thực thi chính sách. Cùng đó, cần cân nhắc cơ chế hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ trong quản trị đại học để đón đầu xu thế toàn cầu hóa đào tạo.
Cũng cơ bản nhất trí với dự thảo chính sách, tuy nhiên, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến bày tỏ băn khoăn khi vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với cả hệ thống không rõ ràng. Cụ thể: Trong nội dung này đặt ra mục tiêu “kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến”, nhưng hiện không có quy định nào làm rõ cơ cấu và hoạt động của hệ thống này.
“Theo định hướng chung hiện nay trên thế giới và Việt Nam, chúng ta cần kiến tạo một hệ thống giáo dục đại học số, mở, linh hoạt, liên thông, học tập suốt đời, bao gồm các trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Tôi cho rằng, để đáp ứng đúng nội dung của chính sách này cần có quy định với nội dung như trên; trong đó các khái niệm “mở”, “linh hoạt”, “liên thông” cần làm rõ. Việc quy định trình độ cao đẳng trong hệ thống giáo dục đại học không thể tránh né, để bảo đảm có cách tiếp cận nhất quán và phù hợp với thông lệ quốc tế trong quan niệm về giáo dục đại học”, TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến nêu quan điểm.
Với chính sách nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, kiến tạo hệ thống quản trị đại học tiên tiến, dự thảo Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) đưa ra 5 nội dung: Quản lý hiệu quả hoạt động giáo dục đại học, thống nhất và bao quát các bên tham gia; Tăng cường tự chủ, nâng cao năng lực quản trị của cơ sở giáo dục đại học và hiệu lực quản lý Nhà nước; Đổi mới phương thức quản lý Nhà nước và tối ưu hóa hoạt động của hệ thống giáo dục đại học; Quản lý thống nhất các địa điểm đào tạo, tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học; Thiết lập hệ thống giáo dục đại học công bằng, bình đẳng, chất lượng và hiệu quả; đáp ứng tốt hơn nhu cầu người học.
Hơn 10.000 sinh viên được tiếp cận giáo dục về năng lượng xanh và AI
GD&TĐ - Dự án “Vì một hành tinh xanh và Giáo dục AI – Kiến tạo tương lai” giai đoạn 2024 - 2026 mang cơ hội học tập, trải nghiệm cho hơn 10.560 sinh viên.
2026-09-02 14:37
Cuộc thi Hồn Việt qua Ống kính Tuổi trẻ cho học sinh THPT chính thức trở lại
GD&TĐ - Cuộc thi nhiếp ảnh Hồn Việt qua Ống kính Tuổi trẻ 2026 chính thức trở lại với chủ đề “Ánh sáng”, dành cho học sinh THPT từ 16-18 tuổi trên toàn quốc.
2026-09-02 14:37
Những dấu ấn Toán học được kể bằng phiên bản đặc biệt
GD&TĐ - Bộ sưu tập giới hạn “Hoàng Xuân Sính” 2026 có gì đặc biệt khi những công thức Toán học bước ra khỏi trang luận án?
2026-09-02 14:36
Bệnh viện Bình Dân hỗ trợ BVĐK Bà Rịa nâng cao năng lực phẫu thuật, quản trị
GD&TĐ - Bệnh viện Bình Dân triển khai chương trình hỗ trợ toàn diện cho Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa nhằm nâng cao năng lực phẫu thuật và quản lý y tế.
2026-09-02 14:36
4 trường nội trú vùng biên Quảng Ngãi sẵn sàng đón học sinh ngày khai giảng
GD&TĐ - Sau hơn 8 tháng khẩn trương thi công, 4 trường nội trú liên cấp vùng biên Quảng Ngãi cơ bản hoàn thiện, sẵn sàng đón học sinh năm học mới.
2026-09-02 14:35
Trường học rộn ràng không khí chào đón 81 năm Quốc khánh
GD&TĐ - Nhân dịp 81 năm Quốc khánh 2/9, các trường học trên cả nước được trang trí cờ hoa rực rỡ và nhiều hoạt động bổ ích cho học sinh.
2026-09-02 14:35
Mở lối phát triển cho học sinh dân tộc thiểu số từ chính nội lực địa phương
GD&TĐ - Sinh ra trong gia đình vùng cao đông con, cô gái người Thái Thùng Thị Kim Chi vượt khó theo đuổi ước mơ sư phạm.
2026-09-02 14:35
Trao cơ hội để thế hệ trẻ vùng cao phát triển nghề truyền thống của địa phương
GD&TĐ - Lớn lên ở mảnh đất cực Tây của Tổ quốc, nữ sinh người Thái, Đinh Lò My Duyên có ước mơ lan tỏa văn hóa phục trang của đồng bào dân tộc thiểu số.
2026-09-02 14:34
Màn hình không thay được cha mẹ
GD&TĐ - Từ 'bảo mẫu công nghệ', điện thoại, máy tính bảng và tivi có thể trở thành rào cản đối với sự phát triển của trẻ nếu được sử dụng quá mức.
2026-09-02 14:34
Tạo điều kiện cho sinh viên xuất sắc người DTTS vươn tới môi trường học quốc tế
GD&TĐ - Từ bản làng biên giới, nữ sinh người Thái Đào Thị Thanh Huyền vượt ngàn cây số học ngành tâm lý với quyết tâm trở về giúp đỡ học sinh quê hương.