Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào trường học: Thử nghiệm, thích nghi và công bằng

2025/10/05 15:06

GD&TĐ - Năm học 2025 - 2026, Bộ GD&ĐT đề nghị các sở GD&ĐT triển khai ứng dụng AI có trách nhiệm, có lộ trình phù hợp từng cấp học, địa phương, nhóm đối tượng với quan điểm lấy người học làm trung tâm, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng tiên phong.



Lộ trình linh hoạt

“Triển khai AI trong giáo dục không thể tiến hành đồng loạt mà cần có lộ trình phù hợp theo từng cấp học, địa phương và nhóm đối tượng, căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và thực tiễn”. Lý giải điều này, TS Phạm Văn Giềng - Phó Hiệu trưởng Trường THCS-THPT Sư phạm (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) cho rằng, yêu cầu cần đạt ở mỗi cấp học khác nhau.
Tiểu học chú trọng hình thành phẩm chất, thói quen học tập và năng lực nền tảng. THCS tập trung phát triển tư duy phân tích, giải quyết vấn đề. THPT nâng cao năng lực tự chủ, định hướng nghề nghiệp. Nếu áp dụng cùng một mô hình AI cho cả ba cấp sẽ dễ gây lệch mục tiêu, học sinh nhỏ tuổi bị quá tải trong khi học sinh lớn lại không được khai thác đúng tiềm năng.
Bên cạnh đó, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường từ trước đến nay được xây dựng theo từng mức độ cụ thể, gắn với yêu cầu lứa tuổi. Do đó, ứng dụng AI cần được tích hợp theo tiến trình tương ứng. Nếu áp dụng đồng loạt, giáo viên sẽ không được chuẩn bị đầy đủ, hạ tầng và nội dung không đồng bộ, dẫn tới tình trạng hình thức hoặc lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, khả năng nhận thức, mức độ tự chủ trong sử dụng công cụ học tập ở các độ tuổi rất khác nhau. Học sinh tiểu học chưa hoàn thiện kỹ năng phân biệt đúng sai và kiểm soát hành vi nên dễ lệ thuộc hoặc tiếp nhận thông tin lệch lạc; nhưng học sinh cấp cao hơn có thể phát huy AI như một công cụ sáng tạo. Vì vậy, cần phân bậc triển khai thay vì “một khuôn cho tất cả”.
Ngoài ra, sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các vùng miền cũng đặt ra yêu cầu lộ trình linh hoạt. Bởi áp dụng đồng loạt sẽ tạo thêm khoảng cách số. Nơi đủ điều kiện được hưởng lợi, trong khi nơi chưa sẵn sàng bị bỏ lại phía sau.
“Chính vì thế, lộ trình ứng dụng AI trong giáo dục phải gắn với mục tiêu của từng cấp học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phù hợp điều kiện vùng miền, đặc điểm của học sinh, để công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và công bằng”, TS Phạm Văn Giềng nêu quan điểm.
Tương tự, TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng nhấn mạnh cần xây dựng một chiến lược quốc gia về AI trong giáo dục với lộ trình thực sự bài bản. Trong đó, ưu tiên số 1 là xây dựng hạ tầng số và chuẩn hóa dữ liệu.
Ưu tiên số 2 là đào tạo lại đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý một cách bài bản, cập nhật, trên cơ sở có đánh giá diện rộng, toàn diện lại thực trạng.
Ưu tiên số 3 là xây dựng khung pháp lý về đạo đức và bảo mật AI.
Triển khai chỉ nên bắt đầu bằng các dự án thí điểm quy mô nhỏ, có giám sát chặt chẽ tại những nơi có đủ điều kiện; tiến hành đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm để từ đó nhận rộng.
Thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Biên Hòa (Đồng Nai) cho rằng, cấp THPT ứng dụng AI nên tập trung hỗ trợ cá nhân học tập, tự học và phát triển kỹ năng số, tư duy phản biện, hỗ trợ đánh giá, kiểm tra.
Cụ thể, AI có thể giúp phân tích dữ liệu học tập của học sinh, từ đó đưa ra lộ trình học tập phù hợp với năng lực, sở thích từng em. Điều này đặc biệt hữu ích trong phát triển kỹ năng chuyên biệt và định hướng nghề nghiệp. Các trợ lý ảo có khả năng trả lời câu hỏi, cung cấp tài liệu tham khảo, hướng dẫn giải bài tập, giúp học sinh tự học hiệu quả. Mô hình lớp học tương tác và tự học với trợ lý ảo nên được nghiên cứu, áp dụng.
Bên cạnh dạy cách sử dụng công cụ AI, cần trang bị cho học sinh tư duy phản biện, khả năng đặt câu hỏi và kiểm chứng dữ liệu. Điều này giúp các em làm chủ, không trở thành người làm thuê cho công nghệ. Cuối cùng, AI có thể được sử dụng để đánh giá thường xuyên và định kỳ thông qua hình thức trực tuyến, giúp giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh khách quan, hiệu quả.
“Triển khai ứng dụng AI cần đi kèm với bồi dưỡng năng lực số và AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; đồng thời, xây dựng học liệu số dùng chung và đảm bảo an toàn môi trường giáo dục số trong nhà trường”, thầy Lê Văn Hòa chia sẻ thêm.
Ảnh minh họa INT.


Giải pháp bảo đảm công bằng, hiệu quả

Với bối cảnh còn chênh lệch về điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng số giữa các địa phương, TS Tôn Quang Cường cho rằng, cần có giải pháp bảo đảm tính công bằng, hiệu quả khi đưa AI vào trường học.
Về lý thuyết, có thể xây dựng mô hình phân tích “Tháp nhu cầu và phân tầng kỹ thuật” ứng dụng AI trong giáo dục từng địa phương. Trong đó, có các mức độ phân tầng chính như: Ứng dụng AI offline có thể chạy trên thiết bị cấu hình thấp, kết nối Internet không ổn định (như phần mềm AI hỗ trợ đọc-viết, trợ lý giảng dạy đơn giản); ứng dụng AI hybrid, kết hợp xử lý cục bộ (Local) và đám mây (Cloud), phù hợp kết nối Internet không ổn định; các giải pháp AI nâng cao, toàn diện cho các khu vực có hạ tầng số phát triển.
Nói cách khác, việc thiết kế và triển khai hạ tầng AI (kèm cơ sở dữ liệu ban đầu) cần thỏa mãn hai yếu tố: Đảm bảo hoạt động được trong môi trường kết nối Internet hạn chế (cơ chế đồng bộ định kỳ) và tối ưu hóa hiệu năng cho thiết bị cấu hình thấp, tiêu thụ ít dữ liệu.
Theo TS Tôn Quang Cường, việc phân tầng theo tiếp cận kỹ thuật nói trên sẽ giúp đưa ra hàng loạt định hướng phát triển giải pháp ứng dụng AI đáp ứng điều kiện thu hẹp khoảng cách vùng miền và thúc đẩy công bằng trong tiếp cận; đồng thời gợi ý, tùy vào điều kiện thực tế có thể phát triển mô hình trung tâm kỹ thuật số cộng đồng, “Phòng Lab AI lưu động” cho giáo dục vùng khó khăn, khó tiếp cận; hay phát triển nền tảng Cloud chuyên dụng để kết nối với trường có điều kiện tốt, chia sẻ tài nguyên máy chủ, xử lý AI cho trường khó khăn…
Bên cạnh đó, địa phương khó khăn có thể đề xuất tạo cơ chế để doanh nghiệp công nghệ nhận “đỡ đầu”, cung cấp giải pháp và đào tạo sử dụng AI với chi phí tối thiểu; các nhà mạng viễn thông cung cấp dữ liệu miễn phí cho các ứng dụng AI giáo dục…
Khoảng cách số là thực tế không thể bỏ qua, tác động trực tiếp và đầu tiên đến “sự chấp nhận” và khả năng ứng dụng AI trong nhà trường. Điều này không thể khắc phục trong ngày một ngày hai, hoặc bằng mệnh lệnh hành chính; càng không thể áp dụng một khuôn mẫu hay mô hình dùng chung. Năng lực của đội ngũ tiên phong cần được rà soát, đánh giá lại để có một bức tranh sát với thực tế về năng lực số, năng lực sử dụng công nghệ và “sư phạm tích hợp công nghệ”. - TS Tôn Quang Cường

Thầy Lê Văn Hòa hướng dẫn học sinh ứng dụng AI trong học Toán. Ảnh; NVCC


Lộ trình linh hoạt

“Triển khai AI trong giáo dục không thể tiến hành đồng loạt mà cần có lộ trình phù hợp theo từng cấp học, địa phương và nhóm đối tượng, căn cứ vào Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và thực tiễn”. Lý giải điều này, TS Phạm Văn Giềng - Phó Hiệu trưởng Trường THCS-THPT Sư phạm (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2) cho rằng, yêu cầu cần đạt ở mỗi cấp học khác nhau.
Tiểu học chú trọng hình thành phẩm chất, thói quen học tập và năng lực nền tảng. THCS tập trung phát triển tư duy phân tích, giải quyết vấn đề. THPT nâng cao năng lực tự chủ, định hướng nghề nghiệp. Nếu áp dụng cùng một mô hình AI cho cả ba cấp sẽ dễ gây lệch mục tiêu, học sinh nhỏ tuổi bị quá tải trong khi học sinh lớn lại không được khai thác đúng tiềm năng.
Bên cạnh đó, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường từ trước đến nay được xây dựng theo từng mức độ cụ thể, gắn với yêu cầu lứa tuổi. Do đó, ứng dụng AI cần được tích hợp theo tiến trình tương ứng. Nếu áp dụng đồng loạt, giáo viên sẽ không được chuẩn bị đầy đủ, hạ tầng và nội dung không đồng bộ, dẫn tới tình trạng hình thức hoặc lãng phí nguồn lực.
Hơn nữa, khả năng nhận thức, mức độ tự chủ trong sử dụng công cụ học tập ở các độ tuổi rất khác nhau. Học sinh tiểu học chưa hoàn thiện kỹ năng phân biệt đúng sai và kiểm soát hành vi nên dễ lệ thuộc hoặc tiếp nhận thông tin lệch lạc; nhưng học sinh cấp cao hơn có thể phát huy AI như một công cụ sáng tạo. Vì vậy, cần phân bậc triển khai thay vì “một khuôn cho tất cả”.
Ngoài ra, sự khác biệt về điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các vùng miền cũng đặt ra yêu cầu lộ trình linh hoạt. Bởi áp dụng đồng loạt sẽ tạo thêm khoảng cách số. Nơi đủ điều kiện được hưởng lợi, trong khi nơi chưa sẵn sàng bị bỏ lại phía sau.
“Chính vì thế, lộ trình ứng dụng AI trong giáo dục phải gắn với mục tiêu của từng cấp học trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, phù hợp điều kiện vùng miền, đặc điểm của học sinh, để công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và công bằng”, TS Phạm Văn Giềng nêu quan điểm.
Tương tự, TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng nhấn mạnh cần xây dựng một chiến lược quốc gia về AI trong giáo dục với lộ trình thực sự bài bản. Trong đó, ưu tiên số 1 là xây dựng hạ tầng số và chuẩn hóa dữ liệu.
Ưu tiên số 2 là đào tạo lại đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý một cách bài bản, cập nhật, trên cơ sở có đánh giá diện rộng, toàn diện lại thực trạng.
Ưu tiên số 3 là xây dựng khung pháp lý về đạo đức và bảo mật AI.
Triển khai chỉ nên bắt đầu bằng các dự án thí điểm quy mô nhỏ, có giám sát chặt chẽ tại những nơi có đủ điều kiện; tiến hành đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm để từ đó nhận rộng.
Thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Biên Hòa (Đồng Nai) cho rằng, cấp THPT ứng dụng AI nên tập trung hỗ trợ cá nhân học tập, tự học và phát triển kỹ năng số, tư duy phản biện, hỗ trợ đánh giá, kiểm tra.
Cụ thể, AI có thể giúp phân tích dữ liệu học tập của học sinh, từ đó đưa ra lộ trình học tập phù hợp với năng lực, sở thích từng em. Điều này đặc biệt hữu ích trong phát triển kỹ năng chuyên biệt và định hướng nghề nghiệp. Các trợ lý ảo có khả năng trả lời câu hỏi, cung cấp tài liệu tham khảo, hướng dẫn giải bài tập, giúp học sinh tự học hiệu quả. Mô hình lớp học tương tác và tự học với trợ lý ảo nên được nghiên cứu, áp dụng.
Bên cạnh dạy cách sử dụng công cụ AI, cần trang bị cho học sinh tư duy phản biện, khả năng đặt câu hỏi và kiểm chứng dữ liệu. Điều này giúp các em làm chủ, không trở thành người làm thuê cho công nghệ. Cuối cùng, AI có thể được sử dụng để đánh giá thường xuyên và định kỳ thông qua hình thức trực tuyến, giúp giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh khách quan, hiệu quả.
“Triển khai ứng dụng AI cần đi kèm với bồi dưỡng năng lực số và AI cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; đồng thời, xây dựng học liệu số dùng chung và đảm bảo an toàn môi trường giáo dục số trong nhà trường”, thầy Lê Văn Hòa chia sẻ thêm.
Ảnh minh họa INT.


Giải pháp bảo đảm công bằng, hiệu quả

Với bối cảnh còn chênh lệch về điều kiện kinh tế - xã hội, hạ tầng số giữa các địa phương, TS Tôn Quang Cường cho rằng, cần có giải pháp bảo đảm tính công bằng, hiệu quả khi đưa AI vào trường học.
Về lý thuyết, có thể xây dựng mô hình phân tích “Tháp nhu cầu và phân tầng kỹ thuật” ứng dụng AI trong giáo dục từng địa phương. Trong đó, có các mức độ phân tầng chính như: Ứng dụng AI offline có thể chạy trên thiết bị cấu hình thấp, kết nối Internet không ổn định (như phần mềm AI hỗ trợ đọc-viết, trợ lý giảng dạy đơn giản); ứng dụng AI hybrid, kết hợp xử lý cục bộ (Local) và đám mây (Cloud), phù hợp kết nối Internet không ổn định; các giải pháp AI nâng cao, toàn diện cho các khu vực có hạ tầng số phát triển.
Nói cách khác, việc thiết kế và triển khai hạ tầng AI (kèm cơ sở dữ liệu ban đầu) cần thỏa mãn hai yếu tố: Đảm bảo hoạt động được trong môi trường kết nối Internet hạn chế (cơ chế đồng bộ định kỳ) và tối ưu hóa hiệu năng cho thiết bị cấu hình thấp, tiêu thụ ít dữ liệu.
Theo TS Tôn Quang Cường, việc phân tầng theo tiếp cận kỹ thuật nói trên sẽ giúp đưa ra hàng loạt định hướng phát triển giải pháp ứng dụng AI đáp ứng điều kiện thu hẹp khoảng cách vùng miền và thúc đẩy công bằng trong tiếp cận; đồng thời gợi ý, tùy vào điều kiện thực tế có thể phát triển mô hình trung tâm kỹ thuật số cộng đồng, “Phòng Lab AI lưu động” cho giáo dục vùng khó khăn, khó tiếp cận; hay phát triển nền tảng Cloud chuyên dụng để kết nối với trường có điều kiện tốt, chia sẻ tài nguyên máy chủ, xử lý AI cho trường khó khăn…
Bên cạnh đó, địa phương khó khăn có thể đề xuất tạo cơ chế để doanh nghiệp công nghệ nhận “đỡ đầu”, cung cấp giải pháp và đào tạo sử dụng AI với chi phí tối thiểu; các nhà mạng viễn thông cung cấp dữ liệu miễn phí cho các ứng dụng AI giáo dục…
Khoảng cách số là thực tế không thể bỏ qua, tác động trực tiếp và đầu tiên đến “sự chấp nhận” và khả năng ứng dụng AI trong nhà trường. Điều này không thể khắc phục trong ngày một ngày hai, hoặc bằng mệnh lệnh hành chính; càng không thể áp dụng một khuôn mẫu hay mô hình dùng chung. Năng lực của đội ngũ tiên phong cần được rà soát, đánh giá lại để có một bức tranh sát với thực tế về năng lực số, năng lực sử dụng công nghệ và “sư phạm tích hợp công nghệ”. - TS Tôn Quang Cường

Chia sẻ
ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào trường họcđưa AI vào trường họcứng dụng trí tuệ nhân tạotriển khai ứng dụng AItriển khai AI trong giáo dục
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2025/10/04 10:05 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục kỹ năng

'Sinh viên thế hệ mới 2026' lộ diện nhiều ý tưởng độc đáo, bất ngờ
Giáo dục kỹ năng

'Sinh viên thế hệ mới 2026' lộ diện nhiều ý tưởng độc đáo, bất ngờ

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng
Giáo dục kỹ năng

Tăng cường bảo vệ học sinh từ trường học đến cộng đồng

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập
Giáo dục kỹ năng

Để AI thực sự trở thành trợ lý học tập

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa
Giáo dục kỹ năng

Bắc Ninh phát động 'trang sách hồng' tái sử dụng sách giáo khoa

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề
Giáo dục kỹ năng

Rèn bản lĩnh và khả năng thích ứng cho sinh viên trường nghề

Giảng viên RMIT trực tiếp giảng dạy chương trình AI cho sinh viên DTTS
Giáo dục kỹ năng

Giảng viên RMIT trực tiếp giảng dạy chương trình AI cho sinh viên DTTS

Mới nhất

2026-10-19 10:26

Học trung cấp nghề song song chương trình THPT: Mô hình 2 trong 1, đa tiện ích

GD&TĐ - Hàng trăm học sinh ở Cà Mau tham gia các lớp trung cấp nghề học song song chương trình THPT tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Cà Mau.

Học trung cấp nghề song song chương trình THPT: Mô hình 2 trong 1, đa tiện ích
2026-10-19 10:25

Đề xuất chính sách phù hợp với cán bộ quản lý trường học sau sắp xếp

GD&TĐ - Cần có chính sách phù hợp cho cán bộ quản lý cơ sở giáo dục quy mô lớn và người lao động không còn vị trí việc làm phù hợp sau sắp xếp.

Đề xuất chính sách phù hợp với cán bộ quản lý trường học sau sắp xếp
2026-10-19 10:22

244 dự án tranh tài tại HUIT Startup 2026, tổng giá trị hỗ trợ 5 tỷ đồng

GD&TĐ - Tối 18/10, Trường Đại học Công Thương TPHCM (HUIT) trao giải chung kết cuộc thi HUIT Startup lần thứ VII.

244 dự án tranh tài tại HUIT Startup 2026, tổng giá trị hỗ trợ 5 tỷ đồng
2026-10-19 10:20

Nghị quyết số 71-NQ/TW tạo cú hích phát triển giáo dục - đào tạo Nghệ An

GD&TĐ - Nghệ An cụ thể hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW bằng cơ chế, chính sách, đổi mới quản trị, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Nghị quyết số 71-NQ/TW tạo cú hích phát triển giáo dục - đào tạo Nghệ An
2026-10-19 10:17

Thanh Hóa thúc đẩy ứng dụng AI trong dạy và học

GD&TĐ - Chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cách làm mới trong giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục tại Thanh Hóa.

Thanh Hóa thúc đẩy ứng dụng AI trong dạy và học
2026-10-19 10:13

Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ để giải quyết các bài toán từ thực tiễn

GD&TĐ - Theo các chuyên gia, cần chuyển từ đào tạo nhân lực làm chủ kỹ thuật sang tạo ra tri thức, công nghệ mới và giải quyết các bài toán lớn từ thực tiễn.

Thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ để giải quyết các bài toán từ thực tiễn
2026-10-19 10:12

Giáo dục nghề nghiệp cần gắn chuyển đổi số với nhu cầu thị trường lao động

GD&TĐ - Giáo dục nghề nghiệp không chỉ đưa công nghệ vào nhà trường, mà là làm thế nào để hệ thống đào tạo đáp ứng yêu cầu thay đổi của thị trường lao động.

Giáo dục nghề nghiệp cần gắn chuyển đổi số với nhu cầu thị trường lao động
2026-10-19 10:10

Được tiếp sức học nghề tại KGC, chàng trai vươn lên thành trụ cột gia đình

GD&TĐ - Sau gần 3 năm học tập với sự tiếp sức của Trường Cao đẳng Kiên Giang, Danh Thanh Long vượt khó lập nghiệp, trở thành trụ cột kinh tế gia đình.

Được tiếp sức học nghề tại KGC, chàng trai vươn lên thành trụ cột gia đình
2026-10-19 10:08

TPHCM có 2.462 cán bộ quản lý chuyển sang làm giáo viên sau sắp xếp

GD&TĐ - Sở GD&ĐT TPHCM vừa có báo cáo về kết quả sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn TPHCM.

TPHCM có 2.462 cán bộ quản lý chuyển sang làm giáo viên sau sắp xếp
2026-10-19 10:08

Đổi mới tuyển sinh ngành Sư phạm: Lọc tâm lý đầu vào, đo lường thực chất

GD&TĐ - Đánh giá tâm lý sư phạm đầu vào và kiểm định thực chất đầu ra là giải pháp trọng tâm nâng cao chất lượng nhân sự ngành sư phạm.

Đổi mới tuyển sinh ngành Sư phạm: Lọc tâm lý đầu vào, đo lường thực chất