Chùa Đại Bi (xã Dương Hòa - Hà Nội) là ngôi cổ tự, có tuổi đời gần 700 năm. Chùa nằm trên vùng trầm tích văn hóa Quế Dương - vùng đất cổ đặc biệt, còn lưu dấu tích văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay khoảng 2.500 năm qua di chỉ khảo cổ Vinh Quang.
Theo các nguồn sử liệu và bi ký, vào năm Long Khánh thứ 7 (1373) dưới triều nhà Trần, chùa Đại Bi được xây dựng. Cùng với chùa Vĩnh Phúc, chùa Đại Bi trở thành trung tâm tín ngưỡng quan trọng của vùng, là nơi diễn ra lễ hội, lưu truyền giáo lý và neo giữ ký ức cộng đồng.

Toàn cảnh chùa Đại Bi mang phong cách kiến trúc Bắc Bộ truyền thống. Tam quan cũng là gác chuông gồm 2 tầng 8 mái.

Gian giữa treo quả chuông “Đại Bi tự” cao 1,10m, đường kính 0,60m đúc năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1798), gian bên trái treo khánh đồng cao 1,03m, rộng 1,34m. Trên khánh đúc nổi hai mặt chữ “Đại Bi tự khánh, Bính Tý niên khánh” (1818).

Khu Tam bảo xưa kia có mặt bằng hình chữ “đinh” nhưng khoảng năm 1950 đã tu sửa, nâng cao chừng 1m và làm thêm một nhà ngang phía sau thành kiểu chữ “công”.

Tiền đường gồm 7 gian 2 chái, dài 19,5m, xây kiểu tường hồi bít đốc. Hạng mục này chỉ còn hàng cột cái ngoài bằng gỗ, còn các cột khác đều thay bằng gạch hoặc lẩn vào tường.

Mỗi vì được đặt trên 5 hàng chân cột tạo cho mái trước dài ra để phần hiện thông thoáng.

Từ 3 gian giữa của Tiền đường kéo về sau là toà nhà dọc 3 gian. Xưa kia, đây vốn là toà Thiêu hương - Thượng điện. Dãy nhà sau mang tính hậu đường. Từ khu Tam bảo có cửa thông sang dẫn tới nhà khách, nhà tổ. Kiến trúc tuy đã được tu sửa, nhưng những di vật còn lại rất đặc sắc.

Nổi bật nhất trong số các di vật là bàn thờ Phật bằng đá có hình hoa sen, vừa được Thủ tướng Chính phủ công nhận Bảo vật quốc gia ngày 3/2/2026 (đợt 14, năm 2025).

Theo hồ sơ di sản, bàn thờ Phật bằng đá có niên đại thời Trần (thế kỷ XIV, thời vua Long Khánh - năm 1374). Bàn thờ có hình khối hộp dài 2,65m, rộng 1,17m, cao 1,67m, 4 góc chạm 4 chạm chim thần Garuda, mặt trước chạm rồng, mặt sau chạm hổ và sư tử. Những nét chạm khắc này là đặc trưng tiêu biểu của nghệ thuật thời Trần.

Ngoài ra, chùa Đại Bi còn lưu giữ nhiều di vật giá trị qua các triều đại. Một nửa toà Thiêu hương giành để nhà sư thắp hương tụng niệm, nửa sau để bài trí hệ thống tượng pháp.

Hàng trên cùng là bộ Tam thế, hàng thứ 2 là bộ A Di Đà, hàng thứ ba là bộ Quan Âm chuẩn đề. Những pho tượng này có kích thước lớn hơn người thực, được tạo tác trau chuốt, hoạ tiết trang trí tinh xảo mang phong cách thế kỷ XVII - XVIII. Phía dưới có 2 hàng Tuyết Sơn, Di Lặc và Thích Ca sơ sinh có niên hiệu thời Nguyễn.

Tiền đường bài trí hệ thống tượng gồm Hộ pháp ngồi trên sư tử, Đức Ông và Thánh Hiền ngồi trên ngai, còn tượng Giám trai và Thổ địa đều là những pho được tạo tác đầu thế kỷ XX. Hồi bên trái có 2 tấm bia nhỏ, kê tên 20 vị đỗ đạt của địa phương.

Phía hậu điện của chùa có hai tòa Tái Động miêu tả cảnh các tầng địa ngục, từ tội nhân bị tra tấn đến Thần, Phật ở trên cao. Đây là hình ảnh tiêu biểu về nhân sinh quan của Phật giáo, vô cùng sinh động và độc đáo.

Chùa Đại Bi được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997.
















