GD&TĐ - Triển lãm “Ngôn ngữ của đất” tại Bát Tràng cho thấy gốm Việt không còn bó hẹp trong khuôn khổ truyền thống, mà đang định hình một ngôn ngữ mới từ chiều sâu văn hóa.
Đất hóa hình, gốm hóa ngôn ngữ
Trong không gian không quá rộng của xưởng gốm HHU tại Bát Tràng, triển lãm “Ngôn ngữ của đất” trưng bày hàng trăm tác phẩm gốm độc đáo của 9 nghệ sĩ và nghệ nhân: Đỗ Bá Quang, Nguyễn Kim Xuân, Phạm Quốc Anh, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Hải Yến, Hoàng Thanh Như, Phạm Hoàng Vân, Dương Tuyết Nhung và Nguyễn Thị Thu Trang, đến từ CLB Gốm nghệ thuật thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Nghệ nhân Ưu tú Trần Nam Tước - nhà sáng lập gốm HUU cho biết, trong nhiều thế kỷ, gốm gắn liền với công năng như bát, đĩa, chum, vại… vốn là những sản phẩm được tạo ra để phục vụ đời sống sinh hoạt. Tuy nhiên tại triển lãm này, phần lớn các tác phẩm không còn mang chức năng sử dụng cụ thể. Chúng tồn tại như những hình khối độc lập, có đời sống riêng, có khả năng cao trong việc gợi mở suy tưởng.
“Ngày nay, gốm không chỉ được “làm ra” mà đang được “nghĩ lại” như một ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy nhiên, sự “nghĩ lại” ấy không diễn ra theo hướng phá vỡ truyền thống, mà ngược lại, lại đi sâu hơn vào bản sắc của gốm”, nghệ nhân Trần Nam Tước cho hay.
Bản sắc của gốm bắt đầu từ đất. Đất như một điểm tựa, và từ nền tảng ấy, các nghệ sĩ tìm cách mở rộng biên độ biểu đạt, từ hình khối, bề mặt đến nhịp điệu và khoảng trống. Gốm vì thế không còn chỉ là vật thể mà trở thành không gian cảm xúc, nơi suy tư được định hình qua bàn tay con người.
Đến xem và nhận xét về triển lãm, nghệ sĩ Vũ Thành cho rằng đây không chỉ là một cuộc trưng bày gốm, mà là “cuộc đối thoại lặng thầm giữa con người và nguyên liệu nguyên sơ nhất của tự nhiên”. Các tác phẩm cho thấy, đất không còn là chất liệu vô tri mà là một thực thể mang cảm xúc và chứa đựng chiều sâu văn hóa.
Trong các tác phẩm, có thể bắt gặp những hình tượng quen thuộc: con người, con vật, những dáng hình trong đời sống. Nhưng điều đáng nói không phải ở việc các nghệ sĩ, nghệ nhân tái hiện, mà ở cách tác phẩm được giản lược, tiết chế để nhường chỗ cho cảm xúc thăng hoa.
Có những khối gốm thô ráp, gần như chưa hoàn thiện; lại có những tác phẩm tinh tế, giàu tính biểu tượng. Từ hình ảnh người phụ nữ Việt trong đời sống thường nhật đến những kỵ sĩ trên thảo nguyên gợi lên sức mạnh cộng đồng; từ dấu ấn văn hóa các dân tộc thiểu số đến những suy tư mang tính khái quát về con người và thời gian… tất cả tạo nên một phổ đề tài rộng, phản chiếu nhiều lớp cắt của đời sống và tâm thức Việt.
Sự đa dạng ấy không đối lập hay loại trừ, cũng không tạo ra cảm giác rời rạc, mà bổ sung cho nhau; cùng làm nên chiều sâu và độ dày cho thế giới biểu đạt của các tác phẩm; cùng hội tụ ở một điểm chung, đó là nỗ lực tìm kiếm tiếng nói cá nhân thông qua chất liệu truyền thống.
Không còn là những vật dụng như bát, đĩa… gốm dần trở thành một ngôn ngữ, nơi văn hóa được tiếp nối và làm mới.
Xem để hiểu, chạm để cảm
Trong không gian “Ngôn ngữ của đất”, khoảng cách giữa tác phẩm và công chúng như liền mạch khi người xem bước tới gần, sờ tay vào tác phẩm để cảm nhận bề mặt chất liệu, nhịp điệu của khối gốm. Sự tương tác trực tiếp này tạo ra trải nghiệm khác biệt so với nhiều triển lãm ghi dòng chữ “vui lòng không chạm tay vào hiện vật”. Điều đó khiến gốm nghệ thuật không còn là cuộc trình diễn một chiều, mà trở thành quá trình đối thoại bình đẳng.
Theo nghệ sĩ Phạm Quốc Anh, cách tổ chức không gian mở đã tạo nên sức hút rõ rệt cho triển lãm. Ông cho rằng sự kết hợp giữa gốm HHU và các nghệ sĩ không phải là sự ngẫu hứng nhất thời, mà là “một mối lương duyên đã có từ trước”, vì vậy “Ngôn ngữ của đất” vừa là sự tiếp diễn, vừa mở ra một chặng đường mới.
Các tác phẩm tuy đa dạng về hình thức và cách tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở tinh thần tôn vinh bản sắc. Dù lựa chọn con đường biểu đạt nào, các nghệ sĩ không dừng lại ở việc tái hiện mà hướng tới chưng cất phần “tinh” của văn hóa. Chính điểm hội tụ này giúp triển lãm giữ được sự thống nhất trong đa dạng, tạo nên một mạch liên kết từ chiều sâu sáng tạo hơn là ở hình thức.
Nguyễn Thị Hải Yến là trường hợp tiêu biểu cho xu hướng gốm như điêu khắc đương đại. Xuất thân từ chuyên ngành điêu khắc, chị tiếp cận gốm như một phương tiện biểu đạt hình khối và cảm xúc. Trong không gian trưng bày của mình, các tác phẩm được sắp đặt cho phép người xem quan sát từ nhiều phía, cảm nhận sự chuyển động của hình khối trong không gian.
Các sáng tác như “Thiếu nữ”, “Chị tôi” hay “Đợi” không nhấn mạnh chi tiết, mà tập trung vào trạng thái. Hình khối được tiết chế để làm nổi bật những rung động nội tâm, những suy tư về con người và đời sống. Ở đó, gốm không còn là vật liệu mà trở thành một phương tiện để nghệ sĩ đối thoại với chính mình.
Nghệ sĩ Phạm Quốc Anh thực hiện sáng tạo gốm tại Bát Tràng.
Trong khi đó, quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Kim Xuân lại thể hiện rõ trong loạt tác phẩm về ngựa. Không chỉ gợi tả hình dáng, những khối gốm còn mang trạng thái nội tâm, khi dồn nén, lúc lặng lẽ, rồi có khi lại vươn lên đầy nhịp điệu. Ông theo đuổi sự dung hòa giữa “cương” và “nhu”, đòi hỏi hình khối vừa chắc khỏe vừa uyển chuyển để đạt đến độ cân bằng nội tại.
Nghệ sĩ Nguyễn Thị Thu Trang mang đến một sắc thái trầm lắng với hình tượng người phụ nữ. Không phô diễn, chị hướng vào thế giới nội tâm qua những dáng thiền định, giản lược chi tiết để làm nổi bật thần thái. Các biểu tượng như mèo, chim bồ câu hay đứa trẻ gợi ra đời sống bình yên, tạo nên không gian dịu dàng, sâu sắc.
Nghệ sĩ Hoàng Thanh Như lại khai thác chất liệu văn hóa dân tộc, chắt lọc tinh thần đời sống để tạo nên những hình tượng giàu tính biểu trưng. Tác phẩm “Mẫu”, lấy cảm hứng từ văn hóa dân tộc Dao Tiền, thể hiện ý đồ diễn giải chiều sâu tín ngưỡng và bản sắc qua ngôn ngữ tạo hình cô đọng.
“Triển lãm “Ngôn ngữ của đất” không chỉ để ngắm nhìn mà còn để lắng nghe. Khi đất cất tiếng qua hình hài nghệ thuật, con người tìm thấy một cách khác để đối thoại với tự nhiên, với truyền thống và với chính bản thân mình. Từ đó, gốm dần trở thành một ngôn ngữ, nơi văn hóa được tiếp nối và làm mới trong đời sống đương đại”, Nghệ nhân Ưu tú Trần Nam Tước.
Triển lãm 'Ngôn ngữ của đất' trưng bày tác phẩm gốm của 9 nghệ sĩ và nghệ nhân.
Đất hóa hình, gốm hóa ngôn ngữ
Trong không gian không quá rộng của xưởng gốm HHU tại Bát Tràng, triển lãm “Ngôn ngữ của đất” trưng bày hàng trăm tác phẩm gốm độc đáo của 9 nghệ sĩ và nghệ nhân: Đỗ Bá Quang, Nguyễn Kim Xuân, Phạm Quốc Anh, Trần Thanh Vân, Nguyễn Thị Hải Yến, Hoàng Thanh Như, Phạm Hoàng Vân, Dương Tuyết Nhung và Nguyễn Thị Thu Trang, đến từ CLB Gốm nghệ thuật thuộc Hội Mỹ thuật Việt Nam.
Nghệ nhân Ưu tú Trần Nam Tước - nhà sáng lập gốm HUU cho biết, trong nhiều thế kỷ, gốm gắn liền với công năng như bát, đĩa, chum, vại… vốn là những sản phẩm được tạo ra để phục vụ đời sống sinh hoạt. Tuy nhiên tại triển lãm này, phần lớn các tác phẩm không còn mang chức năng sử dụng cụ thể. Chúng tồn tại như những hình khối độc lập, có đời sống riêng, có khả năng cao trong việc gợi mở suy tưởng.
“Ngày nay, gốm không chỉ được “làm ra” mà đang được “nghĩ lại” như một ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy nhiên, sự “nghĩ lại” ấy không diễn ra theo hướng phá vỡ truyền thống, mà ngược lại, lại đi sâu hơn vào bản sắc của gốm”, nghệ nhân Trần Nam Tước cho hay.
Bản sắc của gốm bắt đầu từ đất. Đất như một điểm tựa, và từ nền tảng ấy, các nghệ sĩ tìm cách mở rộng biên độ biểu đạt, từ hình khối, bề mặt đến nhịp điệu và khoảng trống. Gốm vì thế không còn chỉ là vật thể mà trở thành không gian cảm xúc, nơi suy tư được định hình qua bàn tay con người.
Đến xem và nhận xét về triển lãm, nghệ sĩ Vũ Thành cho rằng đây không chỉ là một cuộc trưng bày gốm, mà là “cuộc đối thoại lặng thầm giữa con người và nguyên liệu nguyên sơ nhất của tự nhiên”. Các tác phẩm cho thấy, đất không còn là chất liệu vô tri mà là một thực thể mang cảm xúc và chứa đựng chiều sâu văn hóa.
Trong các tác phẩm, có thể bắt gặp những hình tượng quen thuộc: con người, con vật, những dáng hình trong đời sống. Nhưng điều đáng nói không phải ở việc các nghệ sĩ, nghệ nhân tái hiện, mà ở cách tác phẩm được giản lược, tiết chế để nhường chỗ cho cảm xúc thăng hoa.
Có những khối gốm thô ráp, gần như chưa hoàn thiện; lại có những tác phẩm tinh tế, giàu tính biểu tượng. Từ hình ảnh người phụ nữ Việt trong đời sống thường nhật đến những kỵ sĩ trên thảo nguyên gợi lên sức mạnh cộng đồng; từ dấu ấn văn hóa các dân tộc thiểu số đến những suy tư mang tính khái quát về con người và thời gian… tất cả tạo nên một phổ đề tài rộng, phản chiếu nhiều lớp cắt của đời sống và tâm thức Việt.
Sự đa dạng ấy không đối lập hay loại trừ, cũng không tạo ra cảm giác rời rạc, mà bổ sung cho nhau; cùng làm nên chiều sâu và độ dày cho thế giới biểu đạt của các tác phẩm; cùng hội tụ ở một điểm chung, đó là nỗ lực tìm kiếm tiếng nói cá nhân thông qua chất liệu truyền thống.
Không còn là những vật dụng như bát, đĩa… gốm dần trở thành một ngôn ngữ, nơi văn hóa được tiếp nối và làm mới.
Xem để hiểu, chạm để cảm
Trong không gian “Ngôn ngữ của đất”, khoảng cách giữa tác phẩm và công chúng như liền mạch khi người xem bước tới gần, sờ tay vào tác phẩm để cảm nhận bề mặt chất liệu, nhịp điệu của khối gốm. Sự tương tác trực tiếp này tạo ra trải nghiệm khác biệt so với nhiều triển lãm ghi dòng chữ “vui lòng không chạm tay vào hiện vật”. Điều đó khiến gốm nghệ thuật không còn là cuộc trình diễn một chiều, mà trở thành quá trình đối thoại bình đẳng.
Theo nghệ sĩ Phạm Quốc Anh, cách tổ chức không gian mở đã tạo nên sức hút rõ rệt cho triển lãm. Ông cho rằng sự kết hợp giữa gốm HHU và các nghệ sĩ không phải là sự ngẫu hứng nhất thời, mà là “một mối lương duyên đã có từ trước”, vì vậy “Ngôn ngữ của đất” vừa là sự tiếp diễn, vừa mở ra một chặng đường mới.
Các tác phẩm tuy đa dạng về hình thức và cách tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở tinh thần tôn vinh bản sắc. Dù lựa chọn con đường biểu đạt nào, các nghệ sĩ không dừng lại ở việc tái hiện mà hướng tới chưng cất phần “tinh” của văn hóa. Chính điểm hội tụ này giúp triển lãm giữ được sự thống nhất trong đa dạng, tạo nên một mạch liên kết từ chiều sâu sáng tạo hơn là ở hình thức.
Nguyễn Thị Hải Yến là trường hợp tiêu biểu cho xu hướng gốm như điêu khắc đương đại. Xuất thân từ chuyên ngành điêu khắc, chị tiếp cận gốm như một phương tiện biểu đạt hình khối và cảm xúc. Trong không gian trưng bày của mình, các tác phẩm được sắp đặt cho phép người xem quan sát từ nhiều phía, cảm nhận sự chuyển động của hình khối trong không gian.
Các sáng tác như “Thiếu nữ”, “Chị tôi” hay “Đợi” không nhấn mạnh chi tiết, mà tập trung vào trạng thái. Hình khối được tiết chế để làm nổi bật những rung động nội tâm, những suy tư về con người và đời sống. Ở đó, gốm không còn là vật liệu mà trở thành một phương tiện để nghệ sĩ đối thoại với chính mình.
Nghệ sĩ Phạm Quốc Anh thực hiện sáng tạo gốm tại Bát Tràng.
Trong khi đó, quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Kim Xuân lại thể hiện rõ trong loạt tác phẩm về ngựa. Không chỉ gợi tả hình dáng, những khối gốm còn mang trạng thái nội tâm, khi dồn nén, lúc lặng lẽ, rồi có khi lại vươn lên đầy nhịp điệu. Ông theo đuổi sự dung hòa giữa “cương” và “nhu”, đòi hỏi hình khối vừa chắc khỏe vừa uyển chuyển để đạt đến độ cân bằng nội tại.
Nghệ sĩ Nguyễn Thị Thu Trang mang đến một sắc thái trầm lắng với hình tượng người phụ nữ. Không phô diễn, chị hướng vào thế giới nội tâm qua những dáng thiền định, giản lược chi tiết để làm nổi bật thần thái. Các biểu tượng như mèo, chim bồ câu hay đứa trẻ gợi ra đời sống bình yên, tạo nên không gian dịu dàng, sâu sắc.
Nghệ sĩ Hoàng Thanh Như lại khai thác chất liệu văn hóa dân tộc, chắt lọc tinh thần đời sống để tạo nên những hình tượng giàu tính biểu trưng. Tác phẩm “Mẫu”, lấy cảm hứng từ văn hóa dân tộc Dao Tiền, thể hiện ý đồ diễn giải chiều sâu tín ngưỡng và bản sắc qua ngôn ngữ tạo hình cô đọng.
“Triển lãm “Ngôn ngữ của đất” không chỉ để ngắm nhìn mà còn để lắng nghe. Khi đất cất tiếng qua hình hài nghệ thuật, con người tìm thấy một cách khác để đối thoại với tự nhiên, với truyền thống và với chính bản thân mình. Từ đó, gốm dần trở thành một ngôn ngữ, nơi văn hóa được tiếp nối và làm mới trong đời sống đương đại”, Nghệ nhân Ưu tú Trần Nam Tước.
Trường chuyên trước yêu cầu phát triển năng lực sáng tạo và hội nhập
GD&TĐ - Phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện và hội nhập quốc tế đòi hỏi trường chuyên đổi mới từ dạy học đến đánh giá, đội ngũ và hạ tầng.
2026-09-25 10:15
Tạo sân chơi bổ ích cho trẻ em từ mô hình Trại Thu
GD&TĐ - Tham gia Trại Thu và Tết Trung thu năm 2026, các em học sinh được trải nghiệm nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa và đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
2026-09-25 10:15
Hiện thực hóa ước mơ học tập nơi vùng phên dậu
GD&TĐ - Học tại ngôi trường hiện đại giúp học sinh vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số tại TP Huế có cơ hội vươn lên, giảm nghèo trong tương lai.
2026-09-25 10:14
Thứ trưởng Lê Quân trực tiếp động viên thí sinh chinh phục đấu trường kỹ năng
GD&TĐ - Việc lãnh đạo Bộ trực tiếp đến khu thi, gặp gỡ và động viên đã góp phần tiếp thêm sức mạnh cho các thí sinh tham gia Kỳ thi Kỹ năng nghề thế giới.
2026-09-25 10:13
Việt Nam - Canada mở rộng hợp tác giáo dục trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược
GD&TĐ - Hợp tác giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực có quan hệ gắn bó giữa Việt Nam và Canada.
2026-09-25 10:13
Những trải nghiệm quý giá của thí sinh Việt Nam tại sân chơi kỹ năng thế giới
GD&TĐ - Quá trình thi đấu giúp các thí sinh nhận diện rõ hơn những điểm cần phát huy, đồng thời hoàn thiện từ kỹ năng, ngoại ngữ đến tâm lý thi đấu.
2026-09-25 10:12
Người thầy ở vùng khó 'giữ lửa' để tiến xa
GD&TĐ - Ngành giáo dục đổi mới mạnh mẽ, chất lượng đội ngũ nhà giáo, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng khó, trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định.
2026-09-25 10:11
Báo GD&TĐ tập huấn ứng dụng báo chí dữ liệu trong sản xuất tác phẩm báo chí
GD&TĐ - Ngày 25/9, Chi hội Nhà báo Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức tập huấn “Ứng dụng báo chí dữ liệu trong sản xuất tác phẩm báo chí”.
2026-09-25 10:10
Bộ GD&ĐT lấy ý kiến về dự thảo kết quả tổng rà soát hệ thống pháp luật giáo dục
GD&TĐ - Kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm nhận diện những quy định còn bất cập, chồng chéo và đề xuất hướng hoàn thiện.
2026-09-25 10:09
Đặt nền móng giáo dục từ những lớp học vùng khó
GD&TĐ - Từ những điểm trường giữa núi cao, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, Tuyên Quang đang từng bước mở rộng cơ hội đến trường cho trẻ 3–5 tuổi.