GD&TĐ - Từ những điểm trường giữa núi cao, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, Tuyên Quang đang từng bước mở rộng cơ hội đến trường cho trẻ 3–5 tuổi.
Phổ cập giáo dục mầm non tại tỉnh Tuyên Quang không chỉ giúp trẻ có thêm những năm tháng học tập đầu đời mà còn tạo nền tảng để nâng chất lượng giáo dục, thu hẹp khoảng cách giữa vùng thuận lợi và vùng khó.
Đưa trẻ đến lớp từ những bản làng xa
Với địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3–5 tuổi tại Tuyên Quang đặt ra không ít thách thức. Khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông, đời sống của người dân và nhận thức về giáo dục mầm non ở một số nơi vẫn là những yếu tố ảnh hưởng tới việc huy động trẻ đến trường.
Cô Nguyễn Thị Mến, Trường Mầm non Bát Đại Sơn, xã Cán Tỷ chia sẻ, là giáo viên công tác tại xã biên giới, nơi 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, cuộc sống của các em và gia đình còn nhiều thiếu thốn, giáo viên luôn phải kiên trì, tận tâm hơn để các con đến lớp mỗi ngày.
Ở nơi địa bàn khó khăn, các cô giáo luôn hết lòng tận tâm.
Trong điều kiện thiếu giáo cụ hiện đại, giáo viên tận dụng những vật liệu sẵn có như vỏ ngô, hòn sỏi để làm đồ chơi, đồ dùng dạy học. Cách làm giản dị nhưng cho thấy một thực tế là ở vùng khó, chất lượng giáo dục được tạo nên từ chính sự sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của giáo viên.
Năm 2026, mạng lưới trường lớp tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn, phù hợp quy mô dân số và điều kiện thực tế. Trường Mầm non Cán Tỷ được tổ chức lại sau sắp xếp, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trên địa bàn. Tại lễ khai giảng năm học 2026–2027, Trường Mầm non Cán Tỷ cùng các trường trong cụm đã tổ chức đón trẻ vào năm học mới trong sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Tại Trường Mầm non Hùng Lợi, hành trình vận động trẻ vùng khó đến lớp cũng được thực hiện bằng sự kiên trì của giáo viên.
Cô Ma Thị Anh có 20 năm công tác tại vùng khó. Những ngày đầu về điểm trường Khuổi Ma, nơi chưa có điện, không có sóng điện thoại, nhiều trẻ trong độ tuổi nhưng chưa đến trường, cô bắt đầu bằng việc đến từng gia đình vận động phụ huynh. Để giao tiếp thuận lợi hơn, cô còn tự học tiếng Mông, tiếng Dao. “Muốn vận động được phụ huynh thì trước hết phải hiểu bà con, hiểu hoàn cảnh của từng gia đình. Khi đã có sự tin tưởng thì việc vận động trẻ đến lớp cũng thuận lợi hơn”, cô Anh chia sẻ.
Theo bà Lê Thị Ánh Dương, Hiệu trưởng Trường Mầm non Hùng Lợi, việc huy động trẻ đến trường, đặc biệt trẻ từ 24–36 tháng tuổi, không dễ dàng. Giáo viên phải tận tâm, tìm hiểu và thấu hiểu hoàn cảnh từng gia đình để tạo niềm tin với phụ huynh. Sự nhiệt huyết của giáo viên góp phần tăng số lượng trẻ đến lớp qua từng năm học.
Đây chính là phần việc quan trọng của phổ cập: không chỉ thống kê đủ số trẻ trong độ tuổi mà phải tìm cách để từng em thực sự có cơ hội đến trường.
Phổ cập phải đi cùng nâng chất lượng
Ngày 21/3/2026, UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số 532/QĐ-UBND phê duyệt Đề án “Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi giai đoạn 2025–2030”. Đề án xác định đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Cô và trò Trường Mầm non Hùng Lợi.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu hoàn thiện mạng lưới trường lớp, bảo đảm huy động ít nhất 90% trẻ 3–5 tuổi đến lớp tại các xã đặc biệt khó khăn và 100% tại các xã, phường còn lại. Đồng thời, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, bảo đảm trẻ được học 2 buổi/ngày theo chương trình, chuẩn bị tốt tâm thế vào lớp 1.
Như vậy, bài toán phổ cập không dừng ở việc “có chỗ học”. Mục tiêu quan trọng hơn là trẻ được học trong môi trường an toàn, được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển phù hợp với độ tuổi.
Tại những điểm trường vùng khó, yêu cầu này càng rõ nét. Câu chuyện của Trường Mầm non Hướng Dương, một cơ sở giáo dục ở xã Thuận Hòa, địa bàn có tới 96,5% trẻ em là người dân tộc thiểu số, cho thấy nhà trường đang tìm cách thu hẹp khoảng cách chất lượng bằng đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ.
Bà Trần Thị Vụ, Hiệu trưởng Trường Mầm non Hướng Dương, cho biết nhà trường xây dựng kho học liệu dùng chung trên nền tảng Padlet, giúp giáo viên chia sẻ giáo án STEAM, truyện, sách lật, video và các tài liệu phục vụ dạy học. Theo cô Vụ, nếu được hỗ trợ thêm phòng học trực tuyến, máy tính, thiết bị kết nối Internet và tập huấn về công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn.
Đây là hướng tiếp cận đáng chú ý đối với giáo dục mầm non vùng khó. Khi cơ sở vật chất còn hạn chế, việc chia sẻ học liệu, nâng năng lực số của giáo viên và khai thác công nghệ có thể giúp mở rộng nguồn tài nguyên giáo dục, tạo thêm cơ hội để trẻ tiếp cận những hoạt động học tập sinh động.
Ở Trường Mầm non Hùng Lợi, cô giáo Mã Thị Thắm cũng đang cho thấy vai trò của đổi mới trong nâng chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từng giảng dạy tại điểm trường có nhiều trẻ dân tộc Mông, cô kiên trì giúp trẻ làm quen tiếng Việt thông qua những hoạt động gần gũi, đồng thời áp dụng STEAM và công nghệ vào giờ học.
Hiệu trưởng Lê Thị Ánh Dương đánh giá cô Thắm là giáo viên tâm huyết, sáng tạo, đi đầu trong đổi mới phương pháp. Theo cô Dương, việc ứng dụng công nghệ số ở một trường vùng sâu không dễ, nhưng những nỗ lực đó góp phần nâng chất lượng giáo dục, giúp học sinh dân tộc thiểu số tự tin hơn, nhất là trong sử dụng tiếng Việt.
Từ những điểm trường như Bát Đại Sơn, Hùng Lợi hay Hướng Dương, có thể thấy phổ cập giáo dục mầm non 3–5 tuổi đang được đặt trong một yêu cầu lớn hơn, đó là tạo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng và nâng chất lượng ngay từ bậc học đầu tiên.
Năm học 2026–2027, Tuyên Quang tiếp tục xác định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3–5 tuổi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời đẩy mạnh dạy học 2 buổi/ngày, giáo dục STEM/STEAM, kỹ năng số và nâng cao chất lượng đội ngũ. Với vùng khó, con đường phía trước vẫn còn những trở ngại về cơ sở vật chất, giao thông, đội ngũ và điều kiện kinh tế của gia đình. Nhưng từ sự bền bỉ của những cô giáo bám bản, sự đồng hành của chính quyền và những cách làm mới trong nhà trường, khoảng cách ấy đang từng bước được thu hẹp.
Tuyên Quang nỗ lực thu hẹp khoảng cách giáo dục vùng khó.
Phổ cập giáo dục mầm non tại tỉnh Tuyên Quang không chỉ giúp trẻ có thêm những năm tháng học tập đầu đời mà còn tạo nền tảng để nâng chất lượng giáo dục, thu hẹp khoảng cách giữa vùng thuận lợi và vùng khó.
Đưa trẻ đến lớp từ những bản làng xa
Với địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3–5 tuổi tại Tuyên Quang đặt ra không ít thách thức. Khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông, đời sống của người dân và nhận thức về giáo dục mầm non ở một số nơi vẫn là những yếu tố ảnh hưởng tới việc huy động trẻ đến trường.
Cô Nguyễn Thị Mến, Trường Mầm non Bát Đại Sơn, xã Cán Tỷ chia sẻ, là giáo viên công tác tại xã biên giới, nơi 100% học sinh là người dân tộc thiểu số, cuộc sống của các em và gia đình còn nhiều thiếu thốn, giáo viên luôn phải kiên trì, tận tâm hơn để các con đến lớp mỗi ngày.
Ở nơi địa bàn khó khăn, các cô giáo luôn hết lòng tận tâm.
Trong điều kiện thiếu giáo cụ hiện đại, giáo viên tận dụng những vật liệu sẵn có như vỏ ngô, hòn sỏi để làm đồ chơi, đồ dùng dạy học. Cách làm giản dị nhưng cho thấy một thực tế là ở vùng khó, chất lượng giáo dục được tạo nên từ chính sự sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của giáo viên.
Năm 2026, mạng lưới trường lớp tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn, phù hợp quy mô dân số và điều kiện thực tế. Trường Mầm non Cán Tỷ được tổ chức lại sau sắp xếp, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trên địa bàn. Tại lễ khai giảng năm học 2026–2027, Trường Mầm non Cán Tỷ cùng các trường trong cụm đã tổ chức đón trẻ vào năm học mới trong sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương.
Tại Trường Mầm non Hùng Lợi, hành trình vận động trẻ vùng khó đến lớp cũng được thực hiện bằng sự kiên trì của giáo viên.
Cô Ma Thị Anh có 20 năm công tác tại vùng khó. Những ngày đầu về điểm trường Khuổi Ma, nơi chưa có điện, không có sóng điện thoại, nhiều trẻ trong độ tuổi nhưng chưa đến trường, cô bắt đầu bằng việc đến từng gia đình vận động phụ huynh. Để giao tiếp thuận lợi hơn, cô còn tự học tiếng Mông, tiếng Dao. “Muốn vận động được phụ huynh thì trước hết phải hiểu bà con, hiểu hoàn cảnh của từng gia đình. Khi đã có sự tin tưởng thì việc vận động trẻ đến lớp cũng thuận lợi hơn”, cô Anh chia sẻ.
Theo bà Lê Thị Ánh Dương, Hiệu trưởng Trường Mầm non Hùng Lợi, việc huy động trẻ đến trường, đặc biệt trẻ từ 24–36 tháng tuổi, không dễ dàng. Giáo viên phải tận tâm, tìm hiểu và thấu hiểu hoàn cảnh từng gia đình để tạo niềm tin với phụ huynh. Sự nhiệt huyết của giáo viên góp phần tăng số lượng trẻ đến lớp qua từng năm học.
Đây chính là phần việc quan trọng của phổ cập: không chỉ thống kê đủ số trẻ trong độ tuổi mà phải tìm cách để từng em thực sự có cơ hội đến trường.
Phổ cập phải đi cùng nâng chất lượng
Ngày 21/3/2026, UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành Quyết định số 532/QĐ-UBND phê duyệt Đề án “Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi giai đoạn 2025–2030”. Đề án xác định đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Cô và trò Trường Mầm non Hùng Lợi.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, tỉnh phấn đấu hoàn thiện mạng lưới trường lớp, bảo đảm huy động ít nhất 90% trẻ 3–5 tuổi đến lớp tại các xã đặc biệt khó khăn và 100% tại các xã, phường còn lại. Đồng thời, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, bảo đảm trẻ được học 2 buổi/ngày theo chương trình, chuẩn bị tốt tâm thế vào lớp 1.
Như vậy, bài toán phổ cập không dừng ở việc “có chỗ học”. Mục tiêu quan trọng hơn là trẻ được học trong môi trường an toàn, được chăm sóc, nuôi dưỡng và phát triển phù hợp với độ tuổi.
Tại những điểm trường vùng khó, yêu cầu này càng rõ nét. Câu chuyện của Trường Mầm non Hướng Dương, một cơ sở giáo dục ở xã Thuận Hòa, địa bàn có tới 96,5% trẻ em là người dân tộc thiểu số, cho thấy nhà trường đang tìm cách thu hẹp khoảng cách chất lượng bằng đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ.
Bà Trần Thị Vụ, Hiệu trưởng Trường Mầm non Hướng Dương, cho biết nhà trường xây dựng kho học liệu dùng chung trên nền tảng Padlet, giúp giáo viên chia sẻ giáo án STEAM, truyện, sách lật, video và các tài liệu phục vụ dạy học. Theo cô Vụ, nếu được hỗ trợ thêm phòng học trực tuyến, máy tính, thiết bị kết nối Internet và tập huấn về công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn.
Đây là hướng tiếp cận đáng chú ý đối với giáo dục mầm non vùng khó. Khi cơ sở vật chất còn hạn chế, việc chia sẻ học liệu, nâng năng lực số của giáo viên và khai thác công nghệ có thể giúp mở rộng nguồn tài nguyên giáo dục, tạo thêm cơ hội để trẻ tiếp cận những hoạt động học tập sinh động.
Ở Trường Mầm non Hùng Lợi, cô giáo Mã Thị Thắm cũng đang cho thấy vai trò của đổi mới trong nâng chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Từng giảng dạy tại điểm trường có nhiều trẻ dân tộc Mông, cô kiên trì giúp trẻ làm quen tiếng Việt thông qua những hoạt động gần gũi, đồng thời áp dụng STEAM và công nghệ vào giờ học.
Hiệu trưởng Lê Thị Ánh Dương đánh giá cô Thắm là giáo viên tâm huyết, sáng tạo, đi đầu trong đổi mới phương pháp. Theo cô Dương, việc ứng dụng công nghệ số ở một trường vùng sâu không dễ, nhưng những nỗ lực đó góp phần nâng chất lượng giáo dục, giúp học sinh dân tộc thiểu số tự tin hơn, nhất là trong sử dụng tiếng Việt.
Từ những điểm trường như Bát Đại Sơn, Hùng Lợi hay Hướng Dương, có thể thấy phổ cập giáo dục mầm non 3–5 tuổi đang được đặt trong một yêu cầu lớn hơn, đó là tạo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng và nâng chất lượng ngay từ bậc học đầu tiên.
Năm học 2026–2027, Tuyên Quang tiếp tục xác định phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3–5 tuổi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời đẩy mạnh dạy học 2 buổi/ngày, giáo dục STEM/STEAM, kỹ năng số và nâng cao chất lượng đội ngũ. Với vùng khó, con đường phía trước vẫn còn những trở ngại về cơ sở vật chất, giao thông, đội ngũ và điều kiện kinh tế của gia đình. Nhưng từ sự bền bỉ của những cô giáo bám bản, sự đồng hành của chính quyền và những cách làm mới trong nhà trường, khoảng cách ấy đang từng bước được thu hẹp.
Trường chuyên trước yêu cầu phát triển năng lực sáng tạo và hội nhập
GD&TĐ - Phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện và hội nhập quốc tế đòi hỏi trường chuyên đổi mới từ dạy học đến đánh giá, đội ngũ và hạ tầng.
2026-09-25 10:15
Tạo sân chơi bổ ích cho trẻ em từ mô hình Trại Thu
GD&TĐ - Tham gia Trại Thu và Tết Trung thu năm 2026, các em học sinh được trải nghiệm nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa và đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
2026-09-25 10:13
Việt Nam - Canada mở rộng hợp tác giáo dục trong khuôn khổ Đối tác Chiến lược
GD&TĐ - Hợp tác giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực có quan hệ gắn bó giữa Việt Nam và Canada.
2026-09-25 10:12
Người thầy ở vùng khó 'giữ lửa' để tiến xa
GD&TĐ - Ngành giáo dục đổi mới mạnh mẽ, chất lượng đội ngũ nhà giáo, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng khó, trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định.
2026-09-25 10:10
Bộ GD&ĐT lấy ý kiến về dự thảo kết quả tổng rà soát hệ thống pháp luật giáo dục
GD&TĐ - Kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm nhận diện những quy định còn bất cập, chồng chéo và đề xuất hướng hoàn thiện.
2026-09-25 10:09
Đặt nền móng giáo dục từ những lớp học vùng khó
GD&TĐ - Từ những điểm trường giữa núi cao, nơi điều kiện kinh tế còn khó khăn, Tuyên Quang đang từng bước mở rộng cơ hội đến trường cho trẻ 3–5 tuổi.
2026-09-25 10:09
Người thầy ở vùng khó 'giữ lửa' để thích ứng với kỷ nguyên số
GD&TĐ - Ngành giáo dục đổi mới mạnh mẽ, chất lượng đội ngũ nhà giáo, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng khó, trở thành yếu tố có ý nghĩa quyết định.
2026-09-25 09:54
Công bố địa điểm cung ứng, địa chỉ đặt mua sách giáo khoa trên toàn quốc
GD&TĐ - Tại văn bản gửi UBND cấp tỉnh về cung ứng SGK năm học 2026-2027, Bộ GD&ĐT công bố địa điểm cung ứng, địa chỉ đặt mua SGK trên toàn quốc.
2026-09-25 09:53
Kết nối đặt hàng đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi
GD&TĐ - Ngày 28/9/2026, tại TP Hồ Chí Minh, Bộ GD&ĐT sẽ tổ chức Diễn đàn hợp tác nhà trường - doanh nghiệp năm 2026 với chủ đề “Kết nối đặt hàng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ mới nổi”.
2026-09-25 09:52
Kinh nghiệm trường quốc tế trong chuyển đổi số và ứng dụng AI
GD&TĐ - AI chỉ là một trong số rất nhiều công cụ hỗ trợ học tập, mục tiêu trung tâm của giáo dục vẫn là phát triển tư duy phản biện cho học sinh.