Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: LK05 HDI Home, 201 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Phạm Thị Thu Thảo

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

NSND Vương Duy Biên: Phục dựng, phải giữ được hồn cốt di sản

2025/06/23 13:40

(NB&CL) Phục dựng một di sản văn hóa không đơn thuần là việc khôi phục lại hình dáng bên ngoài, mà quan trọng hơn là phải tái hiện được “linh hồn”, cái tinh túy đã làm nên giá trị độc đáo của nó.

Gian nan chuyện phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn hóa - du lịch: Cộng đồng phải được giao quyền quyết định việc phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa Sen Heritage - hành trình chắp ghép những “mảnh vỡ” của lịch sử Di sản hát Xoan Phú Thọ: Từ “vật vã” bảo tồn đến thế giới vinh danh 
Đó là chia sẻ của NSND Vương Duy Biên, Phó Chủ tịch chuyên trách Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Báo Nhà báo và Công luận.
+ Việc phục dựng các di tích không phải là chuyện mới, từ xưa các cụ ta đã làm rất nhiều, điều đó còn được ghi trong các văn tự, bi ký… Nhưng đến nay, câu chuyện phục dựng các di tích, di sản vẫn luôn được xã hội quan tâm. Ông nghĩ sao về điều này, thưa ông?
- Đây là xu thế chung của tất cả các nước trên thế giới, người ta đều quan tâm đến các di tích, các di sản bị thời gian tàn phá. Với Việt Nam chúng ta phải trải qua một thời gian dài chiến tranh cho nên nhiều di tích bị ảnh hưởng, có di tích bị mất hẳn. Cho nên việc phục dựng các di tích, di sản để cho thế hệ hôm nay và mai sau biết được truyền thống và lịch sử, văn hóa của cha ông cũng chính là việc giữ gìn bản sắc, giữ gìn văn hóa truyền thống. Khi khai quật Hoàng thành Thăng Long, tìm thấy những dấu tích, những cổ vật dù ít ỏi chúng ta vẫn luôn trân trọng bởi dưới đó là những tầng văn hóa, là lịch sử của đất nước. Có thể nói, việc phục dựng, bảo tồn các di sản rất quan trọng không chỉ đối với ngành văn hóa mà còn đối với toàn xã hội, do đó hoạt động này luôn được dư luận quan tâm cũng là điều dễ hiểu.

+ Chúng ta đã có Chùa Một Cột phục dựng năm 1955 hay nhà Thái Học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng lại năm 1998-2000. Đây là những công trình được đánh giá là mang nét kiến trúc truyền thống và hài hòa với không gian xung quanh, hay nói cách khác là thành công trong việc phục dựng di tích cổ. Theo ông, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì từ những thành công này?
- Đó là việc phải tôn trọng lịch sử và đặc biệt khi phục dựng phải giữ được hồn cốt của di tích, di sản. Chúng ta có một ngành gọi là ngành trùng tu di tích. Đối với ngành này cần có cả kiến thức lịch sử và khoa học. Chúng ta từng mời các chuyên gia nước ngoài để phục dựng các di tích tháp Chăm, di tích Óc Eo, di tích Mỹ Sơn. Làm việc với chuyên gia nước ngoài, chúng ta học được rất nhiều từ họ, đó là sự nghiên cứu sâu sắc và tỉ mỉ. Ví dụ phải nghiên cứu phục dựng từng viên gạch, phục dựng lại chất liệu xây dựng, gỗ thời đó như thế nào, đinh đóng trên gỗ ra sao... tất cả những thứ đó đều phải tôn trọng lịch sử.
Đối với văn hóa phi vật thể, việc phục dựng còn khó khăn hơn nhiều vì những căn cứ còn lại chỉ là những lời kể truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mà mỗi lần truyền đi truyền lại như thế lại có những yếu tố bị mất đi, hay thậm chí thêm vào những yếu tố mới hơn. Ví dụ chèo cổ cách đây 100 năm sẽ khác với chèo bây giờ, ca trù, hát xẩm, hát văn cũng vậy. Nói như vậy để thấy hiện nay tư liệu cho ngành này chúng ta thiếu rất nhiều. Trong khi các nước khác như Trung Quốc chẳng hạn, những tài liệu từ thời Tần Thủy Hoàng họ vẫn còn giữ được thì chúng ta ngay cả thời kỳ gần đây nhất là triều Nguyễn cũng không còn nhiều tư liệu. Mặc dù còn một vài bộ quần áo hay khu kinh thành, nhưng bây giờ hỏi một ông tướng triều Nguyễn ra trận mặc như thế nào chúng ta cũng không biết. Thời ấy các cụ đánh nhau như thế nào, vũ khí ra sao cũng có tư liệu đâu? Những thời kỳ trước đó lại càng không có. Do không còn tư liệu nên bây giờ muốn làm một bức tượng, một bộ phim về Lê Lợi ra trận mặc như thế nào, Nguyễn Trãi mặc ra sao là… chịu. Bí quá thì lại ang áng trang phục của Trung Quốc thời đấy đem ra mặc vào rồi bảo đó là cổ phục của mình. Cho nên việc phục dựng gây nên tranh cãi là chuyện đương nhiên. Khi chúng ta dựng tượng Lý Công Uẩn ở Bờ Hồ cũng có nhiều ý kiến, mà tôi khẳng định luôn, đó là trang phục Trung Quốc. Trang phục này phiên sang cùng thời hồi thế kỷ XI là trang phục đời Tống mà cái mũ bình thiên thể hiện rất rõ. Khi vua Lý Công Uẩn lên ngôi ai khẳng định ông mặc trang phục đó, đội mũ đó? Chẳng lẽ nhà vua mượn trang phục của Trung Quốc để mặc? Dựng tượng một vị vua Việt Nam mà lại mặc trang phục Trung Quốc như vậy, rõ ràng là không ổn.
+ Vậy giải pháp trong những trường hợp này là gì? Chẳng lẽ chúng ta đành “chịu” như ông nói?
- Chúng ta có thiệt thòi là nguồn tư liệu không có cho nên phải nghiên cứu kỹ càng, thận trọng, phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác trong quá trình phục dựng di sản văn hóa. Khi tôi làm tượng cụ Trần Hưng Đạo ở Nam Định, tôi đi gặp cả hai bác Phan Huy Lê, bác Hà Văn Tấn - hai nhà sử học hàng đầu trong “bộ tứ” của Việt Nam. Mặc dù đều nghiên cứu rất kỹ về đời Trần nhưng hai bác đều nói rằng, “tôi không thể nói với anh là anh làm thế này có giống cụ Trần Hưng Đạo hay không, tôi không thể nói cụ là người cao hay thấp, béo hay gầy, mặc quần áo như thế nào, tôi chịu. Tôi chỉ nói được rằng, tôi có cảm nhận cái này là Trần Hưng Đạo, bởi vì căn cứ vào những kiến thức tôi đã học, những gì tôi đã nghiên cứu thôi. Tôi không thể khẳng định nhưng tôi cảm nhận được cái tinh thần toát ra là một vị tướng của Việt Nam hội đủ các phẩm chất nhân, nghĩa, trí, dũng”.
Tóm lại, khi tư liệu không có, chúng ta làm bằng những nghiên cứu, bằng cảm nhận thôi, đó là những thiệt thòi của chúng ta. Cho nên việc phục dựng di tích, di sản vật thể chúng ta còn may mắn khi còn có những nền móng, tầng lớp văn hóa để làm căn cứ, chứ bây giờ muốn phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta sẽ phải chấp nhận chỉ ở mức tương đối thôi.
NSND Vương Duy Biên trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận. Ảnh: Sơn Hải

+ Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Đề án số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Qua theo dõi ông có thể đánh giá gì về đề án này?
- Như tôi đã nói, có nhiều di sản văn hóa phi vật thể chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, nhiều di tích vật thể nay đã không còn. Cho nên việc chúng ta số hóa được các lễ hội là điều rất tốt, chúng ta sẽ có một kho dữ liệu về di sản văn hóa - ít nhất là vào thời điểm này - để lại cho thế hệ mai sau. Cũng từ những căn cứ này, chắc chắn công tác phục dựng di sản văn hóa sẽ có thêm những thuận lợi không nhỏ.
+ Xin cảm ơn ông!
Gian nan chuyện phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa TS. Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn hóa - du lịch: Cộng đồng phải được giao quyền quyết định việc phục dựng, bảo tồn di sản văn hóa Sen Heritage - hành trình chắp ghép những “mảnh vỡ” của lịch sử Di sản hát Xoan Phú Thọ: Từ “vật vã” bảo tồn đến thế giới vinh danh 
Đó là chia sẻ của NSND Vương Duy Biên, Phó Chủ tịch chuyên trách Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Báo Nhà báo và Công luận.
+ Việc phục dựng các di tích không phải là chuyện mới, từ xưa các cụ ta đã làm rất nhiều, điều đó còn được ghi trong các văn tự, bi ký… Nhưng đến nay, câu chuyện phục dựng các di tích, di sản vẫn luôn được xã hội quan tâm. Ông nghĩ sao về điều này, thưa ông?
- Đây là xu thế chung của tất cả các nước trên thế giới, người ta đều quan tâm đến các di tích, các di sản bị thời gian tàn phá. Với Việt Nam chúng ta phải trải qua một thời gian dài chiến tranh cho nên nhiều di tích bị ảnh hưởng, có di tích bị mất hẳn. Cho nên việc phục dựng các di tích, di sản để cho thế hệ hôm nay và mai sau biết được truyền thống và lịch sử, văn hóa của cha ông cũng chính là việc giữ gìn bản sắc, giữ gìn văn hóa truyền thống. Khi khai quật Hoàng thành Thăng Long, tìm thấy những dấu tích, những cổ vật dù ít ỏi chúng ta vẫn luôn trân trọng bởi dưới đó là những tầng văn hóa, là lịch sử của đất nước. Có thể nói, việc phục dựng, bảo tồn các di sản rất quan trọng không chỉ đối với ngành văn hóa mà còn đối với toàn xã hội, do đó hoạt động này luôn được dư luận quan tâm cũng là điều dễ hiểu.
Tượng đài Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn của NSND Vương Duy Biên tại Quảng trường 3/2, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Ảnh: NVCC

+ Chúng ta đã có Chùa Một Cột phục dựng năm 1955 hay nhà Thái Học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám được dựng lại năm 1998-2000. Đây là những công trình được đánh giá là mang nét kiến trúc truyền thống và hài hòa với không gian xung quanh, hay nói cách khác là thành công trong việc phục dựng di tích cổ. Theo ông, chúng ta có thể rút ra được kinh nghiệm gì từ những thành công này?
- Đó là việc phải tôn trọng lịch sử và đặc biệt khi phục dựng phải giữ được hồn cốt của di tích, di sản. Chúng ta có một ngành gọi là ngành trùng tu di tích. Đối với ngành này cần có cả kiến thức lịch sử và khoa học. Chúng ta từng mời các chuyên gia nước ngoài để phục dựng các di tích tháp Chăm, di tích Óc Eo, di tích Mỹ Sơn. Làm việc với chuyên gia nước ngoài, chúng ta học được rất nhiều từ họ, đó là sự nghiên cứu sâu sắc và tỉ mỉ. Ví dụ phải nghiên cứu phục dựng từng viên gạch, phục dựng lại chất liệu xây dựng, gỗ thời đó như thế nào, đinh đóng trên gỗ ra sao... tất cả những thứ đó đều phải tôn trọng lịch sử.
Đối với văn hóa phi vật thể, việc phục dựng còn khó khăn hơn nhiều vì những căn cứ còn lại chỉ là những lời kể truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mà mỗi lần truyền đi truyền lại như thế lại có những yếu tố bị mất đi, hay thậm chí thêm vào những yếu tố mới hơn. Ví dụ chèo cổ cách đây 100 năm sẽ khác với chèo bây giờ, ca trù, hát xẩm, hát văn cũng vậy. Nói như vậy để thấy hiện nay tư liệu cho ngành này chúng ta thiếu rất nhiều. Trong khi các nước khác như Trung Quốc chẳng hạn, những tài liệu từ thời Tần Thủy Hoàng họ vẫn còn giữ được thì chúng ta ngay cả thời kỳ gần đây nhất là triều Nguyễn cũng không còn nhiều tư liệu. Mặc dù còn một vài bộ quần áo hay khu kinh thành, nhưng bây giờ hỏi một ông tướng triều Nguyễn ra trận mặc như thế nào chúng ta cũng không biết. Thời ấy các cụ đánh nhau như thế nào, vũ khí ra sao cũng có tư liệu đâu? Những thời kỳ trước đó lại càng không có. Do không còn tư liệu nên bây giờ muốn làm một bức tượng, một bộ phim về Lê Lợi ra trận mặc như thế nào, Nguyễn Trãi mặc ra sao là… chịu. Bí quá thì lại ang áng trang phục của Trung Quốc thời đấy đem ra mặc vào rồi bảo đó là cổ phục của mình. Cho nên việc phục dựng gây nên tranh cãi là chuyện đương nhiên. Khi chúng ta dựng tượng Lý Công Uẩn ở Bờ Hồ cũng có nhiều ý kiến, mà tôi khẳng định luôn, đó là trang phục Trung Quốc. Trang phục này phiên sang cùng thời hồi thế kỷ XI là trang phục đời Tống mà cái mũ bình thiên thể hiện rất rõ. Khi vua Lý Công Uẩn lên ngôi ai khẳng định ông mặc trang phục đó, đội mũ đó? Chẳng lẽ nhà vua mượn trang phục của Trung Quốc để mặc? Dựng tượng một vị vua Việt Nam mà lại mặc trang phục Trung Quốc như vậy, rõ ràng là không ổn.
+ Vậy giải pháp trong những trường hợp này là gì? Chẳng lẽ chúng ta đành “chịu” như ông nói?
- Chúng ta có thiệt thòi là nguồn tư liệu không có cho nên phải nghiên cứu kỹ càng, thận trọng, phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác trong quá trình phục dựng di sản văn hóa. Khi tôi làm tượng cụ Trần Hưng Đạo ở Nam Định, tôi đi gặp cả hai bác Phan Huy Lê, bác Hà Văn Tấn - hai nhà sử học hàng đầu trong “bộ tứ” của Việt Nam. Mặc dù đều nghiên cứu rất kỹ về đời Trần nhưng hai bác đều nói rằng, “tôi không thể nói với anh là anh làm thế này có giống cụ Trần Hưng Đạo hay không, tôi không thể nói cụ là người cao hay thấp, béo hay gầy, mặc quần áo như thế nào, tôi chịu. Tôi chỉ nói được rằng, tôi có cảm nhận cái này là Trần Hưng Đạo, bởi vì căn cứ vào những kiến thức tôi đã học, những gì tôi đã nghiên cứu thôi. Tôi không thể khẳng định nhưng tôi cảm nhận được cái tinh thần toát ra là một vị tướng của Việt Nam hội đủ các phẩm chất nhân, nghĩa, trí, dũng”.
Tóm lại, khi tư liệu không có, chúng ta làm bằng những nghiên cứu, bằng cảm nhận thôi, đó là những thiệt thòi của chúng ta. Cho nên việc phục dựng di tích, di sản vật thể chúng ta còn may mắn khi còn có những nền móng, tầng lớp văn hóa để làm căn cứ, chứ bây giờ muốn phục dựng các di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta sẽ phải chấp nhận chỉ ở mức tương đối thôi.
NSND Vương Duy Biên trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận. Ảnh: Sơn Hải

+ Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt Đề án số hóa dữ liệu lễ hội tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025. Qua theo dõi ông có thể đánh giá gì về đề án này?
- Như tôi đã nói, có nhiều di sản văn hóa phi vật thể chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, nhiều di tích vật thể nay đã không còn. Cho nên việc chúng ta số hóa được các lễ hội là điều rất tốt, chúng ta sẽ có một kho dữ liệu về di sản văn hóa - ít nhất là vào thời điểm này - để lại cho thế hệ mai sau. Cũng từ những căn cứ này, chắc chắn công tác phục dựng di sản văn hóa sẽ có thêm những thuận lợi không nhỏ.
+ Xin cảm ơn ông!
Chia sẻ
di sản
Theo T.Toàn (Thực hiện)
congluan.vn
Theo: congluan.vn
2025/06/23 15:39 (GMT+7)

Xem thêm Văn hóa

Đêm nay diễn ra lễ hội ‘Linh tinh tình phộc’ ở Phú Thọ
Văn hóa

Đêm nay diễn ra lễ hội ‘Linh tinh tình phộc’ ở Phú Thọ

Ninh Bình phát ấn Đền Trần từ 5h sáng Rằm tháng Giêng
Văn hóa

Ninh Bình phát ấn Đền Trần từ 5h sáng Rằm tháng Giêng

Lễ hội Việt - Nhật lần thứ 11 lần thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục
Văn hóa

Lễ hội Việt - Nhật lần thứ 11 lần thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục

Đầu xuân thưởng lãm Châu phê, trải nghiệm in Mộc bản triều Nguyễn
Văn hóa

Đầu xuân thưởng lãm Châu phê, trải nghiệm in Mộc bản triều Nguyễn

TPHCM có thêm 2 Bảo vật quốc gia
Văn hóa

TPHCM có thêm 2 Bảo vật quốc gia

Du xuân cùng nghệ thuật tạo hình ngựa
Văn hóa

Du xuân cùng nghệ thuật tạo hình ngựa

Mới nhất

2026-02-27 08:40

Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS

GD&TĐ - Sở Y tế tỉnh Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ mua thẻ BHYT và cùng chi trả thuốc kháng vi-rút HIV cho người nhiễm HIV/AIDS.

Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
2026-02-27 08:40

Bác sĩ Vinmec 'hồi sinh' đôi chân cho bé gái liệt hoàn toàn

GD&TĐ - Bé gái 12 tuổi xuất hiện dấu hiệu yếu chân tay, dù đã chữa trị nhiều nơi, tình trạng vẫn ngày càng nặng, cuối cùng liệt hoàn toàn hai chân. Bước ngoặt đến với em khi các bác sĩ Vinmec Times City xác định nguyên nhân do khối nang nội bì trong tủy sống và phẫu thuật thành công, giúp em từ việc phải ngồi xe lăn nay chập chững bước đi trong niềm hạnh phúc vỡ òa của gia đình.

Bác sĩ Vinmec 'hồi sinh' đôi chân cho bé gái liệt hoàn toàn
2026-02-27 08:40

Đột phá kỹ thuật E-CPR cứu sống bệnh nhân ngừng tim

GD&TĐ - Với kỹ thuật E-CPR (ECMO hồi sinh tim phổi), bác sĩ ở TPHCM cứu sống nhiều ca ngừng tim, tỷ lệ phục hồi đạt 36%.

Đột phá kỹ thuật E-CPR cứu sống bệnh nhân ngừng tim
2026-02-27 08:39

TPHCM khuyến cáo người dân cẩn trọng dịch bệnh sau Tết

GD&TĐ - Sau Tết, dịch bệnh tay chân miệng có thể tăng trong tháng 3, dịch sốt xuất huyết có thể tăng sớm hơn so với những năm trước.

TPHCM khuyến cáo người dân cẩn trọng dịch bệnh sau Tết
2026-02-27 08:39

Bước tiến mới trong ứng dụng y học tái tạo và phục hồi chức năng

GD&TĐ - Y học tái tạo được xem là bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi mô hình từ điều trị đơn thuần sang chăm sóc tích hợp, hiện đại, nhân văn.

Bước tiến mới trong ứng dụng y học tái tạo và phục hồi chức năng
2026-02-27 08:39

Người bệnh thoái hóa khớp có nên tập thể dục?

GD&TĐ - Hiện tại chưa có phương pháp chữa khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp, và tập thể dục nhẹ nhàng là một phương pháp điều trị phổ biến để kiểm soát các triệu chứng của bệnh.

Người bệnh thoái hóa khớp có nên tập thể dục?
2026-02-27 08:39

Vì sao Brazil có số người sống thọ cao bất thường?

GD&TĐ - Một bài báo mới nghiên cứu lý do tại sao Brazil lại có số lượng người sống thọ cao bất thường.

Vì sao Brazil có số người sống thọ cao bất thường?
2026-02-27 08:39

Suy nhược thần kinh do làm quá nhiều việc một lúc

GD&TĐ - Khi một người vừa làm việc, vừa chăm con, lo toan gia đình và cố kiểm soát mọi thứ, hệ thần kinh sẽ là thứ đầu tiên kiệt sức. Bề ngoài họ vẫn ổn, nhưng bên trong lại rơi vào trạng thái mệt mỏi kéo dài, cáu gắt, mất ngủ – dấu hiệu âm thầm của suy nhược thần kinh đang dần hình thành.

Suy nhược thần kinh do làm quá nhiều việc một lúc
2026-02-27 08:38

'Sự hy sinh thầm lặng' tôn vinh đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế

GD&TĐ - Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của ngành y tế, yếu tố quyết định chính là đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế - những người cống hiến thầm lặng.

'Sự hy sinh thầm lặng' tôn vinh đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế
2026-02-27 08:38

Trung tướng, GS.TS.BS Lê Hữu Song – Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: Làm khoa học phải đến tận cùng, làm nghề y phải bằng trái tim biết hạnh phúc…

(CLO) Với Trung tướng, GS.TS.BS Lê Hữu Song – Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, nghề y như duyên phận, như sứ mệnh để ông được phụng sự, được hạnh phúc… Trái tim biết hạnh phúc không chỉ là một trái tim khoẻ mà còn là một trái tim biết yêu thương, chia sẻ và hết lòng với người bệnh.

Trung tướng, GS.TS.BS Lê Hữu Song – Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108: Làm khoa học phải đến tận cùng, làm nghề y phải bằng trái tim biết hạnh phúc…