Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: LK05 HDI Home, 201 Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Phạm Thị Thu Thảo

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục

2026/01/13 17:07

GD&TĐ - Giai đoạn 2021 - 2025, cùng đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng đã từng bước hình thành và phát triển trong các cơ sở giáo dục.


Thời gian tới, hoạt động này cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, để hoạt động kiểm định chất lượng thực sự trở thành một phần của hệ thống quản trị, văn hóa chất lượng nhà trường.

Hệ thống bảo đảm chất lượng phát triển ở các cấp học

GS.TS Huỳnh Văn Chương - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), cho biết giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống văn bản hướng dẫn công tác kiểm định chất lượng giáo dục được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn trong nước, hội nhập với khu vực và quốc tế. Hệ thống bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng phát triển ở tất cả cấp học. Cùng với việc đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng từng bước được hình thành, phát triển trong các cơ sở giáo dục.
Năm 2025, Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện căn cứ pháp lý, đưa bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục thành cấu phần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Luật Giáo dục đại học (sửa đổi). Bộ cũng ban hành theo thẩm quyền quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, tổ chức sát hạch kiểm định viên giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm năm 2025.
Hàng loạt hoạt động nhằm tăng cường chất lượng công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng được Bộ GD&ĐT triển khai, như: Tập huấn đánh giá ngoài đối với trường mầm non, phổ thông; tập huấn tự đánh giá, đánh giá ngoài các chương trình đào tạo của giáo dục đại học; sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019 - 2025 đối với trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; tổ chức đánh giá các trung tâm kiểm định, cấp phép, gia hạn hoạt động, sát hạch kiểm định viên, cấp và đổi thẻ kiểm định viên. Nhiều hoạt động hợp tác quốc tế về kiểm định chất lượng giáo dục cũng được Bộ GD&ĐT triển khai…
Tính đến 30/11/2025, cả nước có 234 cơ sở giáo dục đại học đã được kiểm định; trong đó, 222 cơ sở giáo dục đại học, 12 trường cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục; 17 cơ sở giáo dục đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Bên cạnh đó, 2.223 chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Trong đó, 2.215 chương trình đào tạo đại học và 8 chương trình đào tạo cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận; 721 chương trình đào tạo đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, 40.684 cơ sở đã hoàn thành tự đánh giá (đạt 98%, tăng 88,25% so với năm 2014); 24.899 cơ sở hoàn thành đánh giá ngoài (đạt 60%, tăng 50,25% so với năm 2014). Qua đó, cơ sở giáo dục nhận biết đúng hiện trạng, nhất là điểm tồn tại để xây dựng, thực hiện kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng.
Với giáo dục nghề nghiệp, hầu hết cơ sở giáo dục đã hoàn thành tự đánh giá; 134 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 211 chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng đạt chất lượng kiểm định ngoài.
Các trường được lựa chọn để đầu tư, phát triển thành trường chất lượng cao đã hoàn thành đánh giá ngoài và được công nhận chất lượng. 55 trường được các tổ chức CHLB Đức, Úc kiểm định đạt yêu cầu đào tạo 34 nghề chuyển giao từ CHLB Đức và Úc để cấp 2 bằng. 261 trường cao đẳng, 121 trường trung cấp thực hiện xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Ảnh minh họa INT.


Kiểm định phải là một phần của văn hóa chất lượng

Nói về kết quả đạt được, PGS.TS Trần Trung Kiên - Trưởng ban Quản lý chất lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhấn mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo được kiểm định, đánh giá chất lượng; nhiều tổ chức kiểm định quốc tế được công nhận hoạt động tại Việt Nam.
Điều này thúc đẩy quá trình hội nhập và nâng tầm các cơ sở giáo dục. Cùng với đó là sự quan tâm phát triển đội ngũ kiểm định viên trong nước, góp phần tăng tính minh bạch, khách quan, chuyên nghiệp cho công tác kiểm định. Quá trình kiểm định đã thúc đẩy cơ sở giáo dục tiếp cận và áp dụng mô hình quản lý chất lượng hiện đại, cải tiến liên tục, hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục.
Chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng là dấu ấn nổi bật. Theo PGS.TS Trần Trung Kiên, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng được hệ thống phần mềm quản lý chất lượng, số hóa hệ thống minh chứng và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng. Bộ GD&ĐT đã ban hành Khung năng lực số cho người học và giảng dạy, làm cơ sở thiết lập các chuẩn đầu ra mới đối với các chương trình đào tạo; quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng.
Trong giai đoạn tới, PGS.TS Trần Trung Kiên cho rằng, cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ, tích hợp AI trong công tác quản lý chất lượng. AI sẽ hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn, tự động hóa quy trình đánh giá, nâng cao sự chính xác, hiệu quả của công tác đảm bảo, kiểm định chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Giao thông vận tải, đánh giá 5 năm qua, đặc biệt sau gần ba năm triển khai Quyết định 78/QĐ-TTg, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học có nhiều chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động.
Kết quả kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo là căn cứ quan trọng để phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phản ánh bước tiến rõ nét của giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thông qua hoạt động kiểm định, phát hiện, khuyến nghị của chuyên gia trong đoàn đánh giá ngoài, cơ sở giáo dục có điều kiện nhận diện rõ điểm mạnh để tiếp tục phát huy, điểm còn tồn tại nhằm đề ra giải pháp khắc phục phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn hệ thống.
Mặt khác, hoạt động đảm bảo chất lượng diễn ra rộng khắp, liên tục giúp nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cơ sở giáo dục. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảm chất lượng phát triển cả về số lượng và năng lực, đưa hệ thống tiến gần hơn chuẩn mực quốc tế.
Ngoài kết quả đạt được nói trên, công tác đảm bảo chất lượng nói chung, hoạt động kiểm định nói riêng vẫn còn một số tồn tại. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, một số cơ sở giáo dục chưa gắn bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình, quản trị nhà trường. Văn hóa chất lượng chưa lan tỏa sâu rộng; nhiều cơ sở giáo dục vẫn coi kiểm định là thủ tục hành chính hơn là công cụ quản trị.
Tại Hội nghị sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chỉ đạo: Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Kiểm định phải thực chất, khách quan, không hình thức; đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam. Ba từ khóa được Thứ trưởng nhấn mạnh là: “Hoàn thiện - thực chất - hội nhập quốc tế”.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, PGS.TS Nguyễn Thị Hòa cho rằng cần làm tốt các việc sau:
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định triển khai Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); ban hành Khung đảm bảo chất lượng quốc gia và thống nhất giữa bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục (IQA) với bảo đảm chất lượng bên ngoài (EQA), Khung trình độ quốc gia (VQF).
Cùng với đó, chuẩn hóa các chuẩn quản lý cơ sở giáo dục với các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Có cơ chế, chính sách, quy định pháp lý rõ ràng về tổ chức, nhân sự làm công tác bảo đảm chất lượng để hoàn thiện, phát triển hệ thống. Ban hành quy định về chuyển đổi số, thiết lập đầy đủ hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.
Hỗ trợ thiết lập hệ thống khảo sát, công khai dữ liệu, làm căn cứ cho các đối sánh để cải tiến chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Đồng thời, cần cơ chế giúp cơ sở giáo dục đại học thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục.
Cùng với đó là cơ chế đầu tư đối với cơ sở giáo dục thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng, đưa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiệm cận với hệ thống giáo dục đại học tiên tiến.
Đối với cơ sở giáo dục đại học, theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, cần chủ động hơn nữa, thiết lập bộ máy đảm bảo chất lượng rõ ràng, hoạt động thực chất. Có cam kết, chỉ đạo mạnh mẽ từ lãnh đạo cơ sở giáo dục đối với hoạt động kiểm định chất lượng, thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng, phân bổ nguồn lực phù hợp cho hoạt động này.
Cơ sở giáo dục cần coi hoạt động kiểm định chất lượng là một phần của hệ thống quản trị và văn hóa chất lượng, không phải hoạt động mang tính thời điểm hay hình thức. Tránh tình trạng “xong kiểm định là xong nhiệm vụ” vì hoạt động này đòi hỏi cải tiến liên tục.
Giai đoạn 2026 - 2030, GS.TS Huỳnh Văn Chương cho biết sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2022 - 2030; đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục trong nước và quốc tế về cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo.

GS.TS Huỳnh Văn Chương trao Giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn các Trường Đại học Đông Nam Á cho Trường Đại học Giao thông vận tải. Ảnh: NTCC

Thời gian tới, hoạt động này cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, để hoạt động kiểm định chất lượng thực sự trở thành một phần của hệ thống quản trị, văn hóa chất lượng nhà trường.

Hệ thống bảo đảm chất lượng phát triển ở các cấp học

GS.TS Huỳnh Văn Chương - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), cho biết giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống văn bản hướng dẫn công tác kiểm định chất lượng giáo dục được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn trong nước, hội nhập với khu vực và quốc tế. Hệ thống bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng phát triển ở tất cả cấp học. Cùng với việc đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng từng bước được hình thành, phát triển trong các cơ sở giáo dục.
Năm 2025, Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện căn cứ pháp lý, đưa bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục thành cấu phần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Luật Giáo dục đại học (sửa đổi). Bộ cũng ban hành theo thẩm quyền quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, tổ chức sát hạch kiểm định viên giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm năm 2025.
Hàng loạt hoạt động nhằm tăng cường chất lượng công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng được Bộ GD&ĐT triển khai, như: Tập huấn đánh giá ngoài đối với trường mầm non, phổ thông; tập huấn tự đánh giá, đánh giá ngoài các chương trình đào tạo của giáo dục đại học; sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019 - 2025 đối với trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; tổ chức đánh giá các trung tâm kiểm định, cấp phép, gia hạn hoạt động, sát hạch kiểm định viên, cấp và đổi thẻ kiểm định viên. Nhiều hoạt động hợp tác quốc tế về kiểm định chất lượng giáo dục cũng được Bộ GD&ĐT triển khai…
Tính đến 30/11/2025, cả nước có 234 cơ sở giáo dục đại học đã được kiểm định; trong đó, 222 cơ sở giáo dục đại học, 12 trường cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục; 17 cơ sở giáo dục đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Bên cạnh đó, 2.223 chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Trong đó, 2.215 chương trình đào tạo đại học và 8 chương trình đào tạo cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận; 721 chương trình đào tạo đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, 40.684 cơ sở đã hoàn thành tự đánh giá (đạt 98%, tăng 88,25% so với năm 2014); 24.899 cơ sở hoàn thành đánh giá ngoài (đạt 60%, tăng 50,25% so với năm 2014). Qua đó, cơ sở giáo dục nhận biết đúng hiện trạng, nhất là điểm tồn tại để xây dựng, thực hiện kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng.
Với giáo dục nghề nghiệp, hầu hết cơ sở giáo dục đã hoàn thành tự đánh giá; 134 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 211 chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng đạt chất lượng kiểm định ngoài.
Các trường được lựa chọn để đầu tư, phát triển thành trường chất lượng cao đã hoàn thành đánh giá ngoài và được công nhận chất lượng. 55 trường được các tổ chức CHLB Đức, Úc kiểm định đạt yêu cầu đào tạo 34 nghề chuyển giao từ CHLB Đức và Úc để cấp 2 bằng. 261 trường cao đẳng, 121 trường trung cấp thực hiện xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Ảnh minh họa INT.


Kiểm định phải là một phần của văn hóa chất lượng

Nói về kết quả đạt được, PGS.TS Trần Trung Kiên - Trưởng ban Quản lý chất lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhấn mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo được kiểm định, đánh giá chất lượng; nhiều tổ chức kiểm định quốc tế được công nhận hoạt động tại Việt Nam.
Điều này thúc đẩy quá trình hội nhập và nâng tầm các cơ sở giáo dục. Cùng với đó là sự quan tâm phát triển đội ngũ kiểm định viên trong nước, góp phần tăng tính minh bạch, khách quan, chuyên nghiệp cho công tác kiểm định. Quá trình kiểm định đã thúc đẩy cơ sở giáo dục tiếp cận và áp dụng mô hình quản lý chất lượng hiện đại, cải tiến liên tục, hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục.
Chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng là dấu ấn nổi bật. Theo PGS.TS Trần Trung Kiên, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng được hệ thống phần mềm quản lý chất lượng, số hóa hệ thống minh chứng và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng. Bộ GD&ĐT đã ban hành Khung năng lực số cho người học và giảng dạy, làm cơ sở thiết lập các chuẩn đầu ra mới đối với các chương trình đào tạo; quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng.
Trong giai đoạn tới, PGS.TS Trần Trung Kiên cho rằng, cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ, tích hợp AI trong công tác quản lý chất lượng. AI sẽ hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn, tự động hóa quy trình đánh giá, nâng cao sự chính xác, hiệu quả của công tác đảm bảo, kiểm định chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Giao thông vận tải, đánh giá 5 năm qua, đặc biệt sau gần ba năm triển khai Quyết định 78/QĐ-TTg, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học có nhiều chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động.
Kết quả kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo là căn cứ quan trọng để phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phản ánh bước tiến rõ nét của giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thông qua hoạt động kiểm định, phát hiện, khuyến nghị của chuyên gia trong đoàn đánh giá ngoài, cơ sở giáo dục có điều kiện nhận diện rõ điểm mạnh để tiếp tục phát huy, điểm còn tồn tại nhằm đề ra giải pháp khắc phục phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn hệ thống.
Mặt khác, hoạt động đảm bảo chất lượng diễn ra rộng khắp, liên tục giúp nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cơ sở giáo dục. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảm chất lượng phát triển cả về số lượng và năng lực, đưa hệ thống tiến gần hơn chuẩn mực quốc tế.
Ngoài kết quả đạt được nói trên, công tác đảm bảo chất lượng nói chung, hoạt động kiểm định nói riêng vẫn còn một số tồn tại. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, một số cơ sở giáo dục chưa gắn bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình, quản trị nhà trường. Văn hóa chất lượng chưa lan tỏa sâu rộng; nhiều cơ sở giáo dục vẫn coi kiểm định là thủ tục hành chính hơn là công cụ quản trị.
Tại Hội nghị sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chỉ đạo: Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Kiểm định phải thực chất, khách quan, không hình thức; đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam. Ba từ khóa được Thứ trưởng nhấn mạnh là: “Hoàn thiện - thực chất - hội nhập quốc tế”.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, PGS.TS Nguyễn Thị Hòa cho rằng cần làm tốt các việc sau:
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định triển khai Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); ban hành Khung đảm bảo chất lượng quốc gia và thống nhất giữa bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục (IQA) với bảo đảm chất lượng bên ngoài (EQA), Khung trình độ quốc gia (VQF).
Cùng với đó, chuẩn hóa các chuẩn quản lý cơ sở giáo dục với các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Có cơ chế, chính sách, quy định pháp lý rõ ràng về tổ chức, nhân sự làm công tác bảo đảm chất lượng để hoàn thiện, phát triển hệ thống. Ban hành quy định về chuyển đổi số, thiết lập đầy đủ hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.
Hỗ trợ thiết lập hệ thống khảo sát, công khai dữ liệu, làm căn cứ cho các đối sánh để cải tiến chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Đồng thời, cần cơ chế giúp cơ sở giáo dục đại học thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục.
Cùng với đó là cơ chế đầu tư đối với cơ sở giáo dục thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng, đưa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiệm cận với hệ thống giáo dục đại học tiên tiến.
Đối với cơ sở giáo dục đại học, theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, cần chủ động hơn nữa, thiết lập bộ máy đảm bảo chất lượng rõ ràng, hoạt động thực chất. Có cam kết, chỉ đạo mạnh mẽ từ lãnh đạo cơ sở giáo dục đối với hoạt động kiểm định chất lượng, thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng, phân bổ nguồn lực phù hợp cho hoạt động này.
Cơ sở giáo dục cần coi hoạt động kiểm định chất lượng là một phần của hệ thống quản trị và văn hóa chất lượng, không phải hoạt động mang tính thời điểm hay hình thức. Tránh tình trạng “xong kiểm định là xong nhiệm vụ” vì hoạt động này đòi hỏi cải tiến liên tục.
Giai đoạn 2026 - 2030, GS.TS Huỳnh Văn Chương cho biết sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2022 - 2030; đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục trong nước và quốc tế về cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo.

Chia sẻ
từ Đại hội XIII đến Đại hội XIVhình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dụcđẩy mạnh tự chủvăn hóa chất lượngphát triển cơ sở giáo dụchoạt động kiểm định chất lượngbảo đảm chất lượng phát triển
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/01/13 16:05 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM Lê Thụy Mỵ Châu cam kết đổi mới, nâng tầm giáo dục
Giáo dục - Học đường

Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM Lê Thụy Mỵ Châu cam kết đổi mới, nâng tầm giáo dục

Global Pathways và vai trò của lộ trình chuyển tiếp trong du học bậc cử nhân
Giáo dục - Học đường

Global Pathways và vai trò của lộ trình chuyển tiếp trong du học bậc cử nhân

Thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy: Tỉnh táo để tránh áp lực
Giáo dục - Học đường

Thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy: Tỉnh táo để tránh áp lực

Kiến tạo công dân số trong kỷ nguyên AI
Giáo dục - Học đường

Kiến tạo công dân số trong kỷ nguyên AI

Tuyên Quang hướng tới phổ cập GD mầm non toàn diện vào năm 2030
Giáo dục - Học đường

Tuyên Quang hướng tới phổ cập GD mầm non toàn diện vào năm 2030

Bộ GD&ĐT quy định chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học
Giáo dục - Học đường

Bộ GD&ĐT quy định chính sách ưu tiên trong tuyển sinh đại học

Mới nhất

2026-02-27 08:40

Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS

GD&TĐ - Sở Y tế tỉnh Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ mua thẻ BHYT và cùng chi trả thuốc kháng vi-rút HIV cho người nhiễm HIV/AIDS.

Hưng Yên đề xuất dành gần 2 tỷ đồng/năm hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS
2026-02-27 08:40

Bác sĩ Vinmec 'hồi sinh' đôi chân cho bé gái liệt hoàn toàn

GD&TĐ - Bé gái 12 tuổi xuất hiện dấu hiệu yếu chân tay, dù đã chữa trị nhiều nơi, tình trạng vẫn ngày càng nặng, cuối cùng liệt hoàn toàn hai chân. Bước ngoặt đến với em khi các bác sĩ Vinmec Times City xác định nguyên nhân do khối nang nội bì trong tủy sống và phẫu thuật thành công, giúp em từ việc phải ngồi xe lăn nay chập chững bước đi trong niềm hạnh phúc vỡ òa của gia đình.

Bác sĩ Vinmec 'hồi sinh' đôi chân cho bé gái liệt hoàn toàn
2026-02-27 08:40

Đột phá kỹ thuật E-CPR cứu sống bệnh nhân ngừng tim

GD&TĐ - Với kỹ thuật E-CPR (ECMO hồi sinh tim phổi), bác sĩ ở TPHCM cứu sống nhiều ca ngừng tim, tỷ lệ phục hồi đạt 36%.

Đột phá kỹ thuật E-CPR cứu sống bệnh nhân ngừng tim
2026-02-27 08:40

Lễ hội Việt - Nhật lần thứ 11 lần thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục

GD&TĐ - Lễ hội Việt - Nhật lần thứ 11 với chủ đề Chung tay vì “Trẻ em - Trái đất - Tương lai” sẽ diễn ra tại Công viên 23/9 (TPHCM).

Lễ hội Việt - Nhật lần thứ 11 lần thúc đẩy giao lưu văn hóa, giáo dục
2026-02-27 08:39

TPHCM khuyến cáo người dân cẩn trọng dịch bệnh sau Tết

GD&TĐ - Sau Tết, dịch bệnh tay chân miệng có thể tăng trong tháng 3, dịch sốt xuất huyết có thể tăng sớm hơn so với những năm trước.

TPHCM khuyến cáo người dân cẩn trọng dịch bệnh sau Tết
2026-02-27 08:39

Bước tiến mới trong ứng dụng y học tái tạo và phục hồi chức năng

GD&TĐ - Y học tái tạo được xem là bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi mô hình từ điều trị đơn thuần sang chăm sóc tích hợp, hiện đại, nhân văn.

Bước tiến mới trong ứng dụng y học tái tạo và phục hồi chức năng
2026-02-27 08:39

Người bệnh thoái hóa khớp có nên tập thể dục?

GD&TĐ - Hiện tại chưa có phương pháp chữa khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp, và tập thể dục nhẹ nhàng là một phương pháp điều trị phổ biến để kiểm soát các triệu chứng của bệnh.

Người bệnh thoái hóa khớp có nên tập thể dục?
2026-02-27 08:39

Vì sao Brazil có số người sống thọ cao bất thường?

GD&TĐ - Một bài báo mới nghiên cứu lý do tại sao Brazil lại có số lượng người sống thọ cao bất thường.

Vì sao Brazil có số người sống thọ cao bất thường?
2026-02-27 08:39

Suy nhược thần kinh do làm quá nhiều việc một lúc

GD&TĐ - Khi một người vừa làm việc, vừa chăm con, lo toan gia đình và cố kiểm soát mọi thứ, hệ thần kinh sẽ là thứ đầu tiên kiệt sức. Bề ngoài họ vẫn ổn, nhưng bên trong lại rơi vào trạng thái mệt mỏi kéo dài, cáu gắt, mất ngủ – dấu hiệu âm thầm của suy nhược thần kinh đang dần hình thành.

Suy nhược thần kinh do làm quá nhiều việc một lúc
2026-02-27 08:38

'Sự hy sinh thầm lặng' tôn vinh đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế

GD&TĐ - Để thực hiện thắng lợi mục tiêu của ngành y tế, yếu tố quyết định chính là đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế - những người cống hiến thầm lặng.

'Sự hy sinh thầm lặng' tôn vinh đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế