Hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục
2026/01/13 17:07
GD&TĐ - Giai đoạn 2021 - 2025, cùng đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng đã từng bước hình thành và phát triển trong các cơ sở giáo dục.
Thời gian tới, hoạt động này cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, để hoạt động kiểm định chất lượng thực sự trở thành một phần của hệ thống quản trị, văn hóa chất lượng nhà trường.
Hệ thống bảo đảm chất lượng phát triển ở các cấp học
GS.TS Huỳnh Văn Chương - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), cho biết giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống văn bản hướng dẫn công tác kiểm định chất lượng giáo dục được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn trong nước, hội nhập với khu vực và quốc tế. Hệ thống bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng phát triển ở tất cả cấp học. Cùng với việc đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng từng bước được hình thành, phát triển trong các cơ sở giáo dục.
Năm 2025, Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện căn cứ pháp lý, đưa bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục thành cấu phần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Luật Giáo dục đại học (sửa đổi). Bộ cũng ban hành theo thẩm quyền quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, tổ chức sát hạch kiểm định viên giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm năm 2025.
Hàng loạt hoạt động nhằm tăng cường chất lượng công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng được Bộ GD&ĐT triển khai, như: Tập huấn đánh giá ngoài đối với trường mầm non, phổ thông; tập huấn tự đánh giá, đánh giá ngoài các chương trình đào tạo của giáo dục đại học; sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019 - 2025 đối với trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; tổ chức đánh giá các trung tâm kiểm định, cấp phép, gia hạn hoạt động, sát hạch kiểm định viên, cấp và đổi thẻ kiểm định viên. Nhiều hoạt động hợp tác quốc tế về kiểm định chất lượng giáo dục cũng được Bộ GD&ĐT triển khai…
Tính đến 30/11/2025, cả nước có 234 cơ sở giáo dục đại học đã được kiểm định; trong đó, 222 cơ sở giáo dục đại học, 12 trường cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục; 17 cơ sở giáo dục đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Bên cạnh đó, 2.223 chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Trong đó, 2.215 chương trình đào tạo đại học và 8 chương trình đào tạo cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận; 721 chương trình đào tạo đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, 40.684 cơ sở đã hoàn thành tự đánh giá (đạt 98%, tăng 88,25% so với năm 2014); 24.899 cơ sở hoàn thành đánh giá ngoài (đạt 60%, tăng 50,25% so với năm 2014). Qua đó, cơ sở giáo dục nhận biết đúng hiện trạng, nhất là điểm tồn tại để xây dựng, thực hiện kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng.
Với giáo dục nghề nghiệp, hầu hết cơ sở giáo dục đã hoàn thành tự đánh giá; 134 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 211 chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng đạt chất lượng kiểm định ngoài.
Các trường được lựa chọn để đầu tư, phát triển thành trường chất lượng cao đã hoàn thành đánh giá ngoài và được công nhận chất lượng. 55 trường được các tổ chức CHLB Đức, Úc kiểm định đạt yêu cầu đào tạo 34 nghề chuyển giao từ CHLB Đức và Úc để cấp 2 bằng. 261 trường cao đẳng, 121 trường trung cấp thực hiện xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Ảnh minh họa INT.
Kiểm định phải là một phần của văn hóa chất lượng
Nói về kết quả đạt được, PGS.TS Trần Trung Kiên - Trưởng ban Quản lý chất lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhấn mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo được kiểm định, đánh giá chất lượng; nhiều tổ chức kiểm định quốc tế được công nhận hoạt động tại Việt Nam.
Điều này thúc đẩy quá trình hội nhập và nâng tầm các cơ sở giáo dục. Cùng với đó là sự quan tâm phát triển đội ngũ kiểm định viên trong nước, góp phần tăng tính minh bạch, khách quan, chuyên nghiệp cho công tác kiểm định. Quá trình kiểm định đã thúc đẩy cơ sở giáo dục tiếp cận và áp dụng mô hình quản lý chất lượng hiện đại, cải tiến liên tục, hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục.
Chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng là dấu ấn nổi bật. Theo PGS.TS Trần Trung Kiên, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng được hệ thống phần mềm quản lý chất lượng, số hóa hệ thống minh chứng và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng. Bộ GD&ĐT đã ban hành Khung năng lực số cho người học và giảng dạy, làm cơ sở thiết lập các chuẩn đầu ra mới đối với các chương trình đào tạo; quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng.
Trong giai đoạn tới, PGS.TS Trần Trung Kiên cho rằng, cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ, tích hợp AI trong công tác quản lý chất lượng. AI sẽ hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn, tự động hóa quy trình đánh giá, nâng cao sự chính xác, hiệu quả của công tác đảm bảo, kiểm định chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Giao thông vận tải, đánh giá 5 năm qua, đặc biệt sau gần ba năm triển khai Quyết định 78/QĐ-TTg, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học có nhiều chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động.
Kết quả kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo là căn cứ quan trọng để phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phản ánh bước tiến rõ nét của giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thông qua hoạt động kiểm định, phát hiện, khuyến nghị của chuyên gia trong đoàn đánh giá ngoài, cơ sở giáo dục có điều kiện nhận diện rõ điểm mạnh để tiếp tục phát huy, điểm còn tồn tại nhằm đề ra giải pháp khắc phục phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn hệ thống.
Mặt khác, hoạt động đảm bảo chất lượng diễn ra rộng khắp, liên tục giúp nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cơ sở giáo dục. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảm chất lượng phát triển cả về số lượng và năng lực, đưa hệ thống tiến gần hơn chuẩn mực quốc tế.
Ngoài kết quả đạt được nói trên, công tác đảm bảo chất lượng nói chung, hoạt động kiểm định nói riêng vẫn còn một số tồn tại. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, một số cơ sở giáo dục chưa gắn bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình, quản trị nhà trường. Văn hóa chất lượng chưa lan tỏa sâu rộng; nhiều cơ sở giáo dục vẫn coi kiểm định là thủ tục hành chính hơn là công cụ quản trị.
Tại Hội nghị sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chỉ đạo: Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Kiểm định phải thực chất, khách quan, không hình thức; đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam. Ba từ khóa được Thứ trưởng nhấn mạnh là: “Hoàn thiện - thực chất - hội nhập quốc tế”.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, PGS.TS Nguyễn Thị Hòa cho rằng cần làm tốt các việc sau:
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định triển khai Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); ban hành Khung đảm bảo chất lượng quốc gia và thống nhất giữa bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục (IQA) với bảo đảm chất lượng bên ngoài (EQA), Khung trình độ quốc gia (VQF).
Cùng với đó, chuẩn hóa các chuẩn quản lý cơ sở giáo dục với các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Có cơ chế, chính sách, quy định pháp lý rõ ràng về tổ chức, nhân sự làm công tác bảo đảm chất lượng để hoàn thiện, phát triển hệ thống. Ban hành quy định về chuyển đổi số, thiết lập đầy đủ hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.
Hỗ trợ thiết lập hệ thống khảo sát, công khai dữ liệu, làm căn cứ cho các đối sánh để cải tiến chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Đồng thời, cần cơ chế giúp cơ sở giáo dục đại học thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục.
Cùng với đó là cơ chế đầu tư đối với cơ sở giáo dục thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng, đưa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiệm cận với hệ thống giáo dục đại học tiên tiến.
Đối với cơ sở giáo dục đại học, theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, cần chủ động hơn nữa, thiết lập bộ máy đảm bảo chất lượng rõ ràng, hoạt động thực chất. Có cam kết, chỉ đạo mạnh mẽ từ lãnh đạo cơ sở giáo dục đối với hoạt động kiểm định chất lượng, thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng, phân bổ nguồn lực phù hợp cho hoạt động này.
Cơ sở giáo dục cần coi hoạt động kiểm định chất lượng là một phần của hệ thống quản trị và văn hóa chất lượng, không phải hoạt động mang tính thời điểm hay hình thức. Tránh tình trạng “xong kiểm định là xong nhiệm vụ” vì hoạt động này đòi hỏi cải tiến liên tục.
Giai đoạn 2026 - 2030, GS.TS Huỳnh Văn Chương cho biết sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2022 - 2030; đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục trong nước và quốc tế về cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo.
GS.TS Huỳnh Văn Chương trao Giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn các Trường Đại học Đông Nam Á cho Trường Đại học Giao thông vận tải. Ảnh: NTCC
Thời gian tới, hoạt động này cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa, để hoạt động kiểm định chất lượng thực sự trở thành một phần của hệ thống quản trị, văn hóa chất lượng nhà trường.
Hệ thống bảo đảm chất lượng phát triển ở các cấp học
GS.TS Huỳnh Văn Chương - Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng (Bộ GD&ĐT), cho biết giai đoạn 2021 - 2025, hệ thống văn bản hướng dẫn công tác kiểm định chất lượng giáo dục được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn trong nước, hội nhập với khu vực và quốc tế. Hệ thống bảo đảm chất lượng, kiểm định chất lượng phát triển ở tất cả cấp học. Cùng với việc đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng từng bước được hình thành, phát triển trong các cơ sở giáo dục.
Năm 2025, Bộ GD&ĐT tiếp tục hoàn thiện căn cứ pháp lý, đưa bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục thành cấu phần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), Luật Giáo dục đại học (sửa đổi). Bộ cũng ban hành theo thẩm quyền quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, tổ chức sát hạch kiểm định viên giáo dục đại học và cao đẳng sư phạm năm 2025.
Hàng loạt hoạt động nhằm tăng cường chất lượng công tác kiểm định, bảo đảm chất lượng được Bộ GD&ĐT triển khai, như: Tập huấn đánh giá ngoài đối với trường mầm non, phổ thông; tập huấn tự đánh giá, đánh giá ngoài các chương trình đào tạo của giáo dục đại học; sơ kết công tác kiểm định chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2019 - 2025 đối với trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; tổ chức đánh giá các trung tâm kiểm định, cấp phép, gia hạn hoạt động, sát hạch kiểm định viên, cấp và đổi thẻ kiểm định viên. Nhiều hoạt động hợp tác quốc tế về kiểm định chất lượng giáo dục cũng được Bộ GD&ĐT triển khai…
Tính đến 30/11/2025, cả nước có 234 cơ sở giáo dục đại học đã được kiểm định; trong đó, 222 cơ sở giáo dục đại học, 12 trường cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục; 17 cơ sở giáo dục đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Bên cạnh đó, 2.223 chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Trong đó, 2.215 chương trình đào tạo đại học và 8 chương trình đào tạo cao đẳng sư phạm được các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục trong nước công nhận; 721 chương trình đào tạo đại học được đánh giá, công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài có uy tín.
Với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, 40.684 cơ sở đã hoàn thành tự đánh giá (đạt 98%, tăng 88,25% so với năm 2014); 24.899 cơ sở hoàn thành đánh giá ngoài (đạt 60%, tăng 50,25% so với năm 2014). Qua đó, cơ sở giáo dục nhận biết đúng hiện trạng, nhất là điểm tồn tại để xây dựng, thực hiện kế hoạch cải tiến nâng cao chất lượng.
Với giáo dục nghề nghiệp, hầu hết cơ sở giáo dục đã hoàn thành tự đánh giá; 134 cơ sở giáo dục nghề nghiệp và 211 chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng đạt chất lượng kiểm định ngoài.
Các trường được lựa chọn để đầu tư, phát triển thành trường chất lượng cao đã hoàn thành đánh giá ngoài và được công nhận chất lượng. 55 trường được các tổ chức CHLB Đức, Úc kiểm định đạt yêu cầu đào tạo 34 nghề chuyển giao từ CHLB Đức và Úc để cấp 2 bằng. 261 trường cao đẳng, 121 trường trung cấp thực hiện xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Ảnh minh họa INT.
Kiểm định phải là một phần của văn hóa chất lượng
Nói về kết quả đạt được, PGS.TS Trần Trung Kiên - Trưởng ban Quản lý chất lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), nhấn mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo được kiểm định, đánh giá chất lượng; nhiều tổ chức kiểm định quốc tế được công nhận hoạt động tại Việt Nam.
Điều này thúc đẩy quá trình hội nhập và nâng tầm các cơ sở giáo dục. Cùng với đó là sự quan tâm phát triển đội ngũ kiểm định viên trong nước, góp phần tăng tính minh bạch, khách quan, chuyên nghiệp cho công tác kiểm định. Quá trình kiểm định đã thúc đẩy cơ sở giáo dục tiếp cận và áp dụng mô hình quản lý chất lượng hiện đại, cải tiến liên tục, hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục.
Chuyển đổi số trong quản lý chất lượng cũng là dấu ấn nổi bật. Theo PGS.TS Trần Trung Kiên, nhiều cơ sở giáo dục đại học đã xây dựng được hệ thống phần mềm quản lý chất lượng, số hóa hệ thống minh chứng và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý chất lượng. Bộ GD&ĐT đã ban hành Khung năng lực số cho người học và giảng dạy, làm cơ sở thiết lập các chuẩn đầu ra mới đối với các chương trình đào tạo; quan tâm đào tạo, nâng cao năng lực chuyển đổi số cho cán bộ làm công tác quản lý chất lượng.
Trong giai đoạn tới, PGS.TS Trần Trung Kiên cho rằng, cần tiếp tục thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ, tích hợp AI trong công tác quản lý chất lượng. AI sẽ hỗ trợ phân tích dữ liệu lớn, tự động hóa quy trình đánh giá, nâng cao sự chính xác, hiệu quả của công tác đảm bảo, kiểm định chất lượng.
PGS.TS Nguyễn Thị Hòa - Trưởng phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Giao thông vận tải, đánh giá 5 năm qua, đặc biệt sau gần ba năm triển khai Quyết định 78/QĐ-TTg, hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học có nhiều chuyển biến rõ rệt về nhận thức, hành động.
Kết quả kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo là căn cứ quan trọng để phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phản ánh bước tiến rõ nét của giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Thông qua hoạt động kiểm định, phát hiện, khuyến nghị của chuyên gia trong đoàn đánh giá ngoài, cơ sở giáo dục có điều kiện nhận diện rõ điểm mạnh để tiếp tục phát huy, điểm còn tồn tại nhằm đề ra giải pháp khắc phục phù hợp; qua đó, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn hệ thống.
Mặt khác, hoạt động đảm bảo chất lượng diễn ra rộng khắp, liên tục giúp nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cơ sở giáo dục. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo đảm chất lượng phát triển cả về số lượng và năng lực, đưa hệ thống tiến gần hơn chuẩn mực quốc tế.
Ngoài kết quả đạt được nói trên, công tác đảm bảo chất lượng nói chung, hoạt động kiểm định nói riêng vẫn còn một số tồn tại. Theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, một số cơ sở giáo dục chưa gắn bảo đảm chất lượng với cải tiến chương trình, quản trị nhà trường. Văn hóa chất lượng chưa lan tỏa sâu rộng; nhiều cơ sở giáo dục vẫn coi kiểm định là thủ tục hành chính hơn là công cụ quản trị.
Tại Hội nghị sơ kết Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Văn Phúc chỉ đạo: Hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Kiểm định phải thực chất, khách quan, không hình thức; đồng thời học hỏi kinh nghiệm quốc tế để xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện Việt Nam. Ba từ khóa được Thứ trưởng nhấn mạnh là: “Hoàn thiện - thực chất - hội nhập quốc tế”.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, PGS.TS Nguyễn Thị Hòa cho rằng cần làm tốt các việc sau:
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cần khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn, quy định triển khai Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); ban hành Khung đảm bảo chất lượng quốc gia và thống nhất giữa bảo đảm chất lượng bên trong cơ sở giáo dục (IQA) với bảo đảm chất lượng bên ngoài (EQA), Khung trình độ quốc gia (VQF).
Cùng với đó, chuẩn hóa các chuẩn quản lý cơ sở giáo dục với các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Có cơ chế, chính sách, quy định pháp lý rõ ràng về tổ chức, nhân sự làm công tác bảo đảm chất lượng để hoàn thiện, phát triển hệ thống. Ban hành quy định về chuyển đổi số, thiết lập đầy đủ hệ thống cơ sở dữ liệu và thông tin bảo đảm, kiểm định chất lượng giáo dục.
Hỗ trợ thiết lập hệ thống khảo sát, công khai dữ liệu, làm căn cứ cho các đối sánh để cải tiến chất lượng cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo. Đồng thời, cần cơ chế giúp cơ sở giáo dục đại học thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục.
Cùng với đó là cơ chế đầu tư đối với cơ sở giáo dục thực hiện tốt công tác kiểm định chất lượng, đưa hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiệm cận với hệ thống giáo dục đại học tiên tiến.
Đối với cơ sở giáo dục đại học, theo PGS.TS Nguyễn Thị Hòa, cần chủ động hơn nữa, thiết lập bộ máy đảm bảo chất lượng rõ ràng, hoạt động thực chất. Có cam kết, chỉ đạo mạnh mẽ từ lãnh đạo cơ sở giáo dục đối với hoạt động kiểm định chất lượng, thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng, phân bổ nguồn lực phù hợp cho hoạt động này.
Cơ sở giáo dục cần coi hoạt động kiểm định chất lượng là một phần của hệ thống quản trị và văn hóa chất lượng, không phải hoạt động mang tính thời điểm hay hình thức. Tránh tình trạng “xong kiểm định là xong nhiệm vụ” vì hoạt động này đòi hỏi cải tiến liên tục.
Giai đoạn 2026 - 2030, GS.TS Huỳnh Văn Chương cho biết sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình phát triển hệ thống bảo đảm và kiểm định chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2022 - 2030; đẩy mạnh kiểm định chất lượng giáo dục trong nước và quốc tế về cơ sở giáo dục, chương trình đào tạo.
Phấn đấu công nghiệp văn hoá góp 7% GDP vào năm 2030, chọn 24/11 là 'Ngày Văn hóa Việt Nam'
(CLO) Đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá
2026-01-13 10:09
Tăng cường hiểu biết pháp luật cho học sinh phổ thông tại Khánh Hòa
GD&TĐ - Hàng ngàn học sinh THPT tham gia chương trình tư vấn pháp luật về Luật An ninh mạng, hướng nghiệp và trao học bổng của Trường ĐH Luật TPHCM.
2026-01-13 10:09
'Tết Việt - Tết Phố' Xuân Bính Ngọ 2026: Đánh thức không gian di sản giữa lòng Hà Nội
(CLO) Xuân Bính Ngọ 2026, không gian hồ Hoàn Kiếm và khu phố cổ Hà Nội sẽ bừng lên sắc xuân rực rỡ với chuỗi hoạt động văn hóa đặc sắc mang tên “Tết Việt - Tết Phố”.
2026-01-13 10:08
Núi Bà Đen: Chiêm bái tượng Phật Câu Na Hàm Mâu Ni dát vàng hiếm hoi tại Việt Nam
Tôn tượng Đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni – biểu tượng của sự thịnh vượng và thời đại hoàng kim – hiện diện uy nghi trên đỉnh núi Bà Đen, thu hút đông đảo Phật tử và du khách.
2026-01-13 10:08
Nhập viện 'cai nghiện', nữ sinh viên vẫn ôm theo bình khí cười
(CLO) Cô gái trẻ bước vào phòng khám với dáng vẻ mệt mỏi, ánh mắt lơ đãng, điều khiến các bác sĩ không khỏi giật mình là bên cạnh cô, một bình chứa khí N₂O vẫn được mang theo như vật bất ly thân.
2026-01-13 10:08
Bảo tàng Ninh Thuận: Khám phá "viên pha lê" kiến trúc và kho tàng di sản văn hóa Chăm
Với hơn 40.000 hiện vật cùng kiến trúc kim tự tháp độc đáo, Bảo tàng Ninh Thuận là điểm dừng chân lý tưởng để tìm hiểu văn hóa Chăm và ngắm nhìn báu vật quốc gia.
2026-01-13 10:07
Trường ĐH Tây Đô tổ chức 'Chuyến xe mùa xuân 2026' đưa sinh viên về quê đón Tết
GD&TĐ - Trường ĐH Tây Đô tổ chức “Chuyến xe mùa xuân 2026”, nhằm hỗ trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn về quê đón Tết Nguyên đán.
2026-01-13 10:07
Thêm cơ hội học tập, việc làm cho du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc
GD&TĐ - Văn phòng đại diện trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Busan tại Bắc Ninh mở thêm cơ hội học tập, việc làm cho du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc.
2026-01-13 10:07
Hình thành văn hóa chất lượng trong toàn hệ thống giáo dục
GD&TĐ - Giai đoạn 2021 - 2025, cùng đẩy mạnh tự chủ, văn hóa chất lượng đã từng bước hình thành và phát triển trong các cơ sở giáo dục.
2026-01-13 10:06
Trụ cột Giáo dục STEM: đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ tại VLUTE
GD&TĐ - Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long kiên định lấy giáo dục STEM làm trụ cột phát triển đồng hành với đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ...