Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Thu hẹp khoảng cách mục tiêu và thực tế dạy tiếng Anh trong trường học

2026/06/04 17:19

GD&TĐ - Bộ GD&ĐT đang xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện Đề án đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.


Góp ý cho Bộ tiêu chí này, nhiều nhà giáo nhấn mạnh yêu cầu thay đổi đồng bộ từ đào tạo, đãi ngộ giáo viên đến kiểm tra, đánh giá.

Chính sách tạo động lực cho đội ngũ

Khẳng định đội ngũ giáo viên là nhân tố then chốt quyết định sự thành công của Đề án, thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Ngô Quyền (Đồng Nai) cho rằng, để tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai, giáo viên không chỉ là người dạy ngoại ngữ mà còn phải là những người sử dụng tiếng Anh như một công cụ truyền đạt tri thức.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, thầy Vũ Ngọc Hòa nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên thông qua các khóa đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy tích hợp nội dung, ngôn ngữ. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực tiếng Anh chuyên ngành cho giáo viên các môn khoa học, toán, giúp họ tự tin triển khai hoạt động dạy học song ngữ trong thực tiễn.
Thầy Vũ Ngọc Hòa mong muốn có cơ chế đãi ngộ và lộ trình nghề nghiệp phù hợp đối với giáo viên tham gia giảng dạy bằng tiếng Anh. Chính sách ưu tiên về tiền lương, phụ cấp đứng lớp hoặc giảm định mức tiết dạy sẽ góp phần tạo động lực và khuyến khích giáo viên nâng cao năng lực.
Đồng thời, việc sở hữu các chứng chỉ quốc tế, năng lực giảng dạy song ngữ cần được xem là tiêu chí quan trọng trong xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm vị trí quản lý cũng như xét tặng các danh hiệu thi đua.
Ngoài ra, theo thầy Vũ Ngọc Hòa, xây dựng môi trường tự học và giao lưu chuyên môn trong nhà trường đóng vai trò thiết yếu. Các cộng đồng học tập chuyên môn cần được khuyến khích hình thành để giáo viên có thể trao đổi kinh nghiệm, dự giờ, chia sẻ phương pháp giảng dạy bằng tiếng Anh.
Nhà trường cũng nên tăng cường hợp tác với tình nguyện viên hoặc chuyên gia nước ngoài nhằm tạo môi trường giao tiếp thường xuyên, giúp giáo viên nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc hàng ngày.
Đề xuất nhiều giải pháp liên quan đến nội dung này, bà Trần Thị Bích Hạnh - Hiệu trưởng Trường Tiểu học thị trấn Hạ Hòa (Phú Thọ) cho rằng, cần có lộ trình bồi dưỡng rõ ràng, phân tầng theo năng lực thay vì áp dụng chung một chuẩn đối với tất cả giáo viên. Công tác đào tạo chú trọng thực hành, tăng cường các phương pháp giảng dạy tích hợp và ứng dụng công nghệ thay vì chỉ tập trung nâng chuẩn chứng chỉ ngoại ngữ.
Bên cạnh đó, xây dựng chính sách đãi ngộ và phụ cấp đặc thù dành cho giáo viên giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh nhằm tạo động lực gắn bó lâu dài. Việc giảm áp lực hành chính, tạo điều kiện để giáo viên tập trung cho chuyên môn và chủ động tự học nâng cao năng lực ngoại ngữ cũng là yếu tố quan trọng.
Ngoài ra, bà Hạnh nhấn mạnh cần khuyến khích hợp tác quốc tế, thúc đẩy các hoạt động trao đổi chuyên môn, xây dựng cộng đồng học tập nghề nghiệp và tạo điều kiện để giáo viên tiếp cận với các nguồn học liệu đạt chuẩn quốc tế.

Thay đổi trong tư duy đánh giá

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy phổ thông hơn 30 năm, cô Đinh Thị Bích Liên, giáo viên Trường THCS-THPT M.V. Lômônôxốp (Hà Nội) bày tỏ mong muốn một sự thay đổi trong tư duy đánh giá. Theo đó, với các môn học bằng tiếng Anh, kiểm tra cần ưu tiên khả năng tư duy và sử dụng thuật ngữ chuyên môn.
“Tại Trường THCS-THPT M.V. Lômônôxốp, việc lồng ghép các nhiệm vụ học tập (task transfer) đã giúp học sinh sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên để giải quyết vấn đề, thay vì chỉ học thuộc lòng ngữ pháp”, cô Liên chia sẻ.
Bên cạnh đó, cô Đinh Thị Bích Liên đề xuất có hướng dẫn cụ thể về việc công nhận và quy đổi các sản phẩm học tập như dự án, báo cáo khoa học bằng tiếng Anh thành điểm đánh giá định kỳ, qua đó góp phần giảm áp lực thi cử theo hình thức truyền thống cho học sinh.
Liên quan đến công tác kiểm tra, đánh giá, bà Trần Thị Bích Hạnh nêu yêu cầu chuyển mạnh từ hình thức đánh giá nặng về ngữ pháp sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách toàn diện ở cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Đồng thời, đa dạng hóa hoạt động kiểm tra, đánh giá thông qua các hình thức như đánh giá thường xuyên, thực hiện dự án, thuyết trình hoặc hoạt động trải nghiệm thay vì chỉ tập trung vào các bài thi viết truyền thống. Xây dựng chuẩn đầu ra rõ ràng cho từng cấp học, tham chiếu các khung năng lực quốc tế nhưng có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tính công bằng giữa các vùng miền, tránh tạo áp lực chuẩn hóa quá cao đối với học sinh, giáo viên ở những khu vực còn nhiều khó khăn cũng cần được quan tâm. Bên cạnh đó là ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá như xây dựng ngân hàng câu hỏi, tổ chức thi trực tuyến hoặc sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chấm kỹ năng nói và viết.
Từ kinh nghiệm dạy học, thầy Vũ Ngọc Hòa cho rằng, công tác kiểm tra, đánh giá cần chuyển mạnh từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ trong các ngữ cảnh thực tế.
Thay vì chỉ tập trung vào các bài kiểm tra trên giấy, cần đa dạng hóa hình thức đánh giá bằng cách tăng tỷ trọng đánh giá quá trình thông qua các dự án học tập, hoạt động thuyết trình, thảo luận nhóm bằng tiếng Anh. Điều này sẽ phản ánh đúng bản chất của tiếng Anh với vai trò là “ngôn ngữ thứ hai”, tức không chỉ để học mà còn là công cụ phục vụ tư duy, giao tiếp và làm việc.
Bên cạnh đó, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng đầu ra với các thang đo cụ thể về năng lực sử dụng tiếng Anh trong từng môn học, chẳng hạn như khả năng giải quyết bài toán bằng tiếng Anh hay viết báo cáo khoa học.
Các tiêu chí này cần tiệm cận chuẩn đánh giá quốc tế nhưng phải có lộ trình thích ứng phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Việc đưa các câu hỏi bằng tiếng Anh vào bài kiểm tra, thi cử cũng là một giải pháp cần được từng bước triển khai.
Thầy Vũ Ngọc Hòa nhấn mạnh, đánh giá cần chú trọng theo dõi sự tiến bộ của học sinh thông qua các phản hồi định kỳ, giúp các em nhận thấy sự phát triển của bản thân và có thêm động lực tự học thay vì chỉ chịu áp lực từ điểm số cuối kỳ.
“Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả triển khai nên tập trung vào các chỉ số định lượng về mức độ sử dụng tiếng Anh thực tế của giáo viên và học sinh trong môi trường nhà trường, thay vì chỉ dựa trên số lượng chứng chỉ quốc tế đạt được. Để tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, cần một lộ trình kiên trì và đồng bộ, bắt đầu từ sự thay đổi trong tư duy quản lý, sự sẵn sàng của đội ngũ giáo viên cho đến đổi mới công cụ và phương pháp dạy học”, thầy Vũ Ngọc Hòa chia sẻ.

Thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Ngô Quyền (Đồng Nai) trong giờ Toán.

Góp ý cho Bộ tiêu chí này, nhiều nhà giáo nhấn mạnh yêu cầu thay đổi đồng bộ từ đào tạo, đãi ngộ giáo viên đến kiểm tra, đánh giá.

Chính sách tạo động lực cho đội ngũ

Khẳng định đội ngũ giáo viên là nhân tố then chốt quyết định sự thành công của Đề án, thầy Vũ Ngọc Hòa - giáo viên Trường THPT Ngô Quyền (Đồng Nai) cho rằng, để tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai, giáo viên không chỉ là người dạy ngoại ngữ mà còn phải là những người sử dụng tiếng Anh như một công cụ truyền đạt tri thức.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, thầy Vũ Ngọc Hòa nhấn mạnh yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên thông qua các khóa đào tạo chuyên sâu về phương pháp giảng dạy tích hợp nội dung, ngôn ngữ. Đặc biệt, cần chú trọng bồi dưỡng năng lực tiếng Anh chuyên ngành cho giáo viên các môn khoa học, toán, giúp họ tự tin triển khai hoạt động dạy học song ngữ trong thực tiễn.
Thầy Vũ Ngọc Hòa mong muốn có cơ chế đãi ngộ và lộ trình nghề nghiệp phù hợp đối với giáo viên tham gia giảng dạy bằng tiếng Anh. Chính sách ưu tiên về tiền lương, phụ cấp đứng lớp hoặc giảm định mức tiết dạy sẽ góp phần tạo động lực và khuyến khích giáo viên nâng cao năng lực.
Đồng thời, việc sở hữu các chứng chỉ quốc tế, năng lực giảng dạy song ngữ cần được xem là tiêu chí quan trọng trong xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp, bổ nhiệm vị trí quản lý cũng như xét tặng các danh hiệu thi đua.
Ngoài ra, theo thầy Vũ Ngọc Hòa, xây dựng môi trường tự học và giao lưu chuyên môn trong nhà trường đóng vai trò thiết yếu. Các cộng đồng học tập chuyên môn cần được khuyến khích hình thành để giáo viên có thể trao đổi kinh nghiệm, dự giờ, chia sẻ phương pháp giảng dạy bằng tiếng Anh.
Nhà trường cũng nên tăng cường hợp tác với tình nguyện viên hoặc chuyên gia nước ngoài nhằm tạo môi trường giao tiếp thường xuyên, giúp giáo viên nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc hàng ngày.
Đề xuất nhiều giải pháp liên quan đến nội dung này, bà Trần Thị Bích Hạnh - Hiệu trưởng Trường Tiểu học thị trấn Hạ Hòa (Phú Thọ) cho rằng, cần có lộ trình bồi dưỡng rõ ràng, phân tầng theo năng lực thay vì áp dụng chung một chuẩn đối với tất cả giáo viên. Công tác đào tạo chú trọng thực hành, tăng cường các phương pháp giảng dạy tích hợp và ứng dụng công nghệ thay vì chỉ tập trung nâng chuẩn chứng chỉ ngoại ngữ.
Bên cạnh đó, xây dựng chính sách đãi ngộ và phụ cấp đặc thù dành cho giáo viên giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh nhằm tạo động lực gắn bó lâu dài. Việc giảm áp lực hành chính, tạo điều kiện để giáo viên tập trung cho chuyên môn và chủ động tự học nâng cao năng lực ngoại ngữ cũng là yếu tố quan trọng.
Ngoài ra, bà Hạnh nhấn mạnh cần khuyến khích hợp tác quốc tế, thúc đẩy các hoạt động trao đổi chuyên môn, xây dựng cộng đồng học tập nghề nghiệp và tạo điều kiện để giáo viên tiếp cận với các nguồn học liệu đạt chuẩn quốc tế.

Thay đổi trong tư duy đánh giá

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy phổ thông hơn 30 năm, cô Đinh Thị Bích Liên, giáo viên Trường THCS-THPT M.V. Lômônôxốp (Hà Nội) bày tỏ mong muốn một sự thay đổi trong tư duy đánh giá. Theo đó, với các môn học bằng tiếng Anh, kiểm tra cần ưu tiên khả năng tư duy và sử dụng thuật ngữ chuyên môn.
“Tại Trường THCS-THPT M.V. Lômônôxốp, việc lồng ghép các nhiệm vụ học tập (task transfer) đã giúp học sinh sử dụng tiếng Anh một cách tự nhiên để giải quyết vấn đề, thay vì chỉ học thuộc lòng ngữ pháp”, cô Liên chia sẻ.
Bên cạnh đó, cô Đinh Thị Bích Liên đề xuất có hướng dẫn cụ thể về việc công nhận và quy đổi các sản phẩm học tập như dự án, báo cáo khoa học bằng tiếng Anh thành điểm đánh giá định kỳ, qua đó góp phần giảm áp lực thi cử theo hình thức truyền thống cho học sinh.
Liên quan đến công tác kiểm tra, đánh giá, bà Trần Thị Bích Hạnh nêu yêu cầu chuyển mạnh từ hình thức đánh giá nặng về ngữ pháp sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách toàn diện ở cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Đồng thời, đa dạng hóa hoạt động kiểm tra, đánh giá thông qua các hình thức như đánh giá thường xuyên, thực hiện dự án, thuyết trình hoặc hoạt động trải nghiệm thay vì chỉ tập trung vào các bài thi viết truyền thống. Xây dựng chuẩn đầu ra rõ ràng cho từng cấp học, tham chiếu các khung năng lực quốc tế nhưng có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tính công bằng giữa các vùng miền, tránh tạo áp lực chuẩn hóa quá cao đối với học sinh, giáo viên ở những khu vực còn nhiều khó khăn cũng cần được quan tâm. Bên cạnh đó là ứng dụng công nghệ trong kiểm tra, đánh giá như xây dựng ngân hàng câu hỏi, tổ chức thi trực tuyến hoặc sử dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ chấm kỹ năng nói và viết.
Từ kinh nghiệm dạy học, thầy Vũ Ngọc Hòa cho rằng, công tác kiểm tra, đánh giá cần chuyển mạnh từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực sử dụng ngôn ngữ trong các ngữ cảnh thực tế.
Thay vì chỉ tập trung vào các bài kiểm tra trên giấy, cần đa dạng hóa hình thức đánh giá bằng cách tăng tỷ trọng đánh giá quá trình thông qua các dự án học tập, hoạt động thuyết trình, thảo luận nhóm bằng tiếng Anh. Điều này sẽ phản ánh đúng bản chất của tiếng Anh với vai trò là “ngôn ngữ thứ hai”, tức không chỉ để học mà còn là công cụ phục vụ tư duy, giao tiếp và làm việc.
Bên cạnh đó, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng đầu ra với các thang đo cụ thể về năng lực sử dụng tiếng Anh trong từng môn học, chẳng hạn như khả năng giải quyết bài toán bằng tiếng Anh hay viết báo cáo khoa học.
Các tiêu chí này cần tiệm cận chuẩn đánh giá quốc tế nhưng phải có lộ trình thích ứng phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Việc đưa các câu hỏi bằng tiếng Anh vào bài kiểm tra, thi cử cũng là một giải pháp cần được từng bước triển khai.
Thầy Vũ Ngọc Hòa nhấn mạnh, đánh giá cần chú trọng theo dõi sự tiến bộ của học sinh thông qua các phản hồi định kỳ, giúp các em nhận thấy sự phát triển của bản thân và có thêm động lực tự học thay vì chỉ chịu áp lực từ điểm số cuối kỳ.
“Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả triển khai nên tập trung vào các chỉ số định lượng về mức độ sử dụng tiếng Anh thực tế của giáo viên và học sinh trong môi trường nhà trường, thay vì chỉ dựa trên số lượng chứng chỉ quốc tế đạt được. Để tiếng Anh thực sự trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, cần một lộ trình kiên trì và đồng bộ, bắt đầu từ sự thay đổi trong tư duy quản lý, sự sẵn sàng của đội ngũ giáo viên cho đến đổi mới công cụ và phương pháp dạy học”, thầy Vũ Ngọc Hòa chia sẻ.

Chia sẻ
dạy tiếng Anhmôn Tiếng AnhBộ GD&ĐT
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/06/03 09:14 (GMT+7)

Xem thêm Giáo dục - Học đường

Từ bằng cấp đến năng lực thực chất của sinh viên tốt nghiệp
Giáo dục - Học đường

Từ bằng cấp đến năng lực thực chất của sinh viên tốt nghiệp

Trường học Đà Nẵng sau sáp nhập, ổn định bộ máy và 'gỡ khó' cho đội ngũ
Giáo dục - Học đường

Trường học Đà Nẵng sau sáp nhập, ổn định bộ máy và 'gỡ khó' cho đội ngũ

Trường Tiểu học ở An Giang sớm ổn định nền nếp sau sáp nhập
Giáo dục - Học đường

Trường Tiểu học ở An Giang sớm ổn định nền nếp sau sáp nhập

Nâng chất đào tạo bằng tiếng nước ngoài trong giáo dục đại học
Giáo dục - Học đường

Nâng chất đào tạo bằng tiếng nước ngoài trong giáo dục đại học

Đào tạo nghề vùng cao, chỉ tiêu định lượng gắn với an sinh xã hội
Giáo dục - Học đường

Đào tạo nghề vùng cao, chỉ tiêu định lượng gắn với an sinh xã hội

Để thầy trò cùng sử dụng tiếng Anh như thói quen hằng ngày
Giáo dục - Học đường

Để thầy trò cùng sử dụng tiếng Anh như thói quen hằng ngày

Mới nhất

2026-10-24 15:08

Quảng Ninh sẵn sàng cho chuỗi sự kiện thể thao tại Yên Tử

GD&TĐ - Chuỗi sự kiện thể thao nhằm hướng tới Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 và kỷ niệm 718 năm ngày Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn.

Quảng Ninh sẵn sàng cho chuỗi sự kiện thể thao tại Yên Tử
2026-10-24 15:08

Khối các trường đại học kỹ thuật trước yêu cầu đột phá đào tạo nhân lực

GD&TĐ - Khối các trường đại học công nghệ kỹ thuật trao đổi chuyên sâu về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW.

Khối các trường đại học kỹ thuật trước yêu cầu đột phá đào tạo nhân lực
2026-10-24 15:08

188 thí sinh tranh tài tại Cuộc thi Tài năng Múa học sinh, sinh viên toàn quốc

GD&TĐ - Cuộc thi Tài năng Múa học sinh, sinh viên toàn quốc năm 2026 hiện đã thu hút 188 thí sinh dự thi từ 18 cơ sở đào tạo trên cả nước.

188 thí sinh tranh tài tại Cuộc thi Tài năng Múa học sinh, sinh viên toàn quốc
2026-10-24 15:07

Những chiếc máy tính mở lối tri thức nơi đảo xa

GD&TĐ - Những phòng máy tính được trao tặng tại Côn Đảo góp phần thu hẹp khoảng cách số, mở rộng cơ hội học tập và chắp cánh tri thức cho học sinh.

Những chiếc máy tính mở lối tri thức nơi đảo xa
2026-10-24 15:06

Trung tâm hợp tác AU – HUST trở thành mô hình truyền cảm hứng cho hợp tác quốc tế

GD&TĐ - Ngày 23/10, tại Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội đã ra mắt Trung tâm hợp tác AU – HUST.

Trung tâm hợp tác AU – HUST trở thành mô hình truyền cảm hứng cho hợp tác quốc tế
2026-10-24 15:06

Nhận diện, tháo gỡ điểm nghẽn trong liên kết viện - trường - doanh nghiệp

GD&TĐ - Làm rõ điểm nghẽn để thúc đẩy liên kết thực chất giữa viện nghiên cứu, trường ĐH với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH-CN.

Nhận diện, tháo gỡ điểm nghẽn trong liên kết viện - trường - doanh nghiệp
2026-10-24 15:05

Thắt chặt tình hữu nghị và giao lưu văn hóa Việt - Nhật

GD&TĐ - Khi học sinh tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa và trải nghiệm sẽ góp phần thúc đẩy tình hữu nghị tốt đẹp giữa Việt Nam - Nhật Bản.

Thắt chặt tình hữu nghị và giao lưu văn hóa Việt - Nhật
2026-10-24 15:05

Mường Pồn: Thông tin văn hóa đến từng bản

GD&TĐ - Qua hệ thống truyền thanh, xã Mường Pồn (Điện Biên) đưa thông tin văn hóa đến người dân, góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc.

Mường Pồn: Thông tin văn hóa đến từng bản
2026-10-24 15:04

Hà Nội ra mắt mô hình thiết chế văn hóa gắn với chuyển đổi số

GD&TĐ - Sáng 23/10, phường Giảng Võ ra mắt mô hình tổ chức hoạt động thiết chế văn hóa tổ dân phố và "Nhà văn hóa số" tại Nhà văn hóa tổ dân phố số 4.

Hà Nội ra mắt mô hình thiết chế văn hóa gắn với chuyển đổi số
2026-10-24 15:04

Tạo 'lá chắn mềm' để học sinh an toàn trên không gian số

GD&TĐ - Các em cần biết kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, ứng xử văn minh trên không gian mạng và mạnh dạn chia sẻ khi gặp khó khăn.

Tạo 'lá chắn mềm' để học sinh an toàn trên không gian số