Tuyển sinh, đào tạo Ngành công nghệ chiến lược - STEM: Khi nào doanh nghiệp thành đối tác thực sự?
2026/10/20 23:04
GD&TĐ - Tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ đặt ra yêu cầu mới đối với đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược và STEM.
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần thực sự trở thành đối tác của nhà trường, cùng tham gia từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến đưa bài toán thực tế vào đào tạo và đánh giá năng lực sinh viên.
Liên kết nhà trường - doanh nghiệp nhìn từ thực tiễn
Liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược và STEM đang chuyển từ một hoạt động mang tính hỗ trợ sang yêu cầu tất yếu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Điều này càng rõ khi Việt Nam đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, gồm công nghệ số, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, năng lượng và vật liệu tiên tiến... Trong những lĩnh vực này, tốc độ đổi mới công nghệ rất nhanh. Nếu chương trình đào tạo chỉ vận hành trong phạm vi nhà trường thì khó theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Chia sẻ nhận định trên, ThS Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội cho rằng, thời gian qua, sự gắn kết giữa trường đại học và doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều hơn vào góp ý chương trình, tổ chức thực hành, thực tập, cử chuyên gia trao đổi với sinh viên, đặt hàng nghiên cứu và tuyển dụng. Về phía các trường đại học, nhận thức về việc đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động cũng ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, mức độ liên kết chưa đồng đều và ở một số nơi vẫn còn thiên về “phần cuối” của quá trình đào tạo, chẳng hạn tiếp nhận thực tập hoặc tuyển dụng sinh viên. Trong khi đó, yêu cầu mới đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn, từ dự báo nhu cầu nhân lực, xác định chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo đến nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Một vấn đề khác được ThS Đỗ Ngọc Anh nhắc đến là chu kỳ thay đổi của công nghệ ngày càng ngắn, trong khi đổi mới chương trình, đầu tư phòng thí nghiệm và phát triển đội ngũ cần thời gian và nguồn lực. Không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện bố trí chuyên gia, thiết bị, dữ liệu phục vụ đào tạo. Với các công nghệ mới còn có những vấn đề cần giải quyết liên quan đến bảo mật dữ liệu, sở hữu trí tuệ, tài sản hình thành từ nghiên cứu và phân chia lợi ích giữa các bên.
Từ đó, ThS Đỗ Ngọc Anh nhấn mạnh điều cần thay đổi căn bản là chuyển doanh nghiệp từ vị trí “sử dụng sản phẩm đào tạo” thành “đối tác cùng tạo ra sản phẩm đào tạo”. Đây mới là nền tảng để mối liên kết đi vào chiều sâu và tạo ra nguồn nhân lực STEM thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển.
Cũng chia sẻ thực trạng, PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học CMC đánh giá liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược, STEM hiện có nhiều thuận lợi nhưng còn khoảng cách giữa hợp tác hình thức và hợp tác thực chất. Không ít mô hình hợp tác vẫn chủ yếu dừng ở ký kết, hội thảo, tham quan, thực tập hoặc tuyển dụng cuối khóa; trong khi tốc độ thay đổi của công nghệ, đặc biệt là AI, nhanh hơn nhiều so với chu kỳ cập nhật chương trình đào tạo.
Bên cạnh đó, nhà trường và doanh nghiệp cũng có nhịp vận hành khác nhau; chuyên gia doanh nghiệp có kinh nghiệm thực tế nhưng không phải lúc nào cũng có đủ thời gian và phương pháp để tham gia đào tạo. Ngoài ra còn có những vấn đề về dữ liệu, bảo mật, sở hữu trí tuệ và cách đánh giá kết quả học tập khi sinh viên tham gia dự án thực tế.
Trường Đại học Mở Hà Nội ký kết với gần 50 tập đoàn, doanh nghiệp về phối hợp phát triển năng lực cho sinh viên trong năm học mới. Ảnh: NTCC
Nhà trường và doanh nghiệp tham gia phát triển nguồn nhân lực
Đưa giải pháp, theo PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng, điều cần đo không phải trường đã ký với bao nhiêu doanh nghiệp, mà là doanh nghiệp đã tham gia vào quá trình hình thành năng lực của sinh viên đến đâu.
Tại Trường Đại học CMC, mô hình Viện - Trường - Doanh nghiệp được thực hiện theo hướng doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, thay vì chỉ tiếp nhận sinh viên ở giai đoạn thực tập. Doanh nghiệp cùng góp ý chuẩn đầu ra, cập nhật nội dung đào tạo, đưa các bài toán thực tế vào môn học, đồng thời tham gia hướng dẫn dự án và đồ án của sinh viên.
Một điểm được Trường Đại học CMC đặc biệt coi trọng là học kỳ khoảng 4 tháng tại doanh nghiệp. Khoảng thời gian này đủ để sinh viên thực sự tham gia vào một chu trình công việc, được giao nhiệm vụ cụ thể, có người hướng dẫn, có sản phẩm và kết quả để đánh giá. Với các ngành STEM, nhà trường hướng tới việc ngày càng nhiều dự án, đồ án tốt nghiệp xuất phát từ chính những vấn đề doanh nghiệp đang cần giải quyết. Qua đó, sinh viên không chỉ học kiến thức mà còn từng bước hình thành năng lực giải quyết các bài toán thực tế.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không thay trường thực hiện trách nhiệm đào tạo. Trường chịu trách nhiệm về chuẩn học thuật, chuẩn đầu ra và chất lượng; doanh nghiệp đưa vào bài toán thực tế; viện nghiên cứu giúp chuyển tri thức thành công nghệ. Thước đo quan trọng nhất vẫn là sau quá trình đó, sinh viên có thực sự giải quyết được những vấn đề của thực tế và thích ứng được với sự thay đổi rất nhanh của công nghệ hay không.
TS. Nguyễn Minh Giám - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một, TPHCM thì cho rằng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận từ mô hình “nhà trường đào tạo, doanh nghiệp tuyển dụng” sang mô hình nhà trường và doanh nghiệp cùng tham gia phát triển nguồn nhân lực. Doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo.
Với các ngành STEM, có thể tăng cường đào tạo theo dự án, học tập giải quyết vấn đề và đưa các bài toán thực tế của doanh nghiệp vào quá trình học tập. Sinh viên không chỉ học kiến thức mà cần được thực hành, thử nghiệm, thiết kế sản phẩm và giải quyết những vấn đề gắn với công việc sau này.
Bên cạnh đó, cần mở rộng vai trò của chuyên gia ở doanh nghiệp trong giảng dạy. Chuyên gia có thể tham gia các chuyên đề, hướng dẫn dự án, cố vấn nghề nghiệp hoặc cùng giảng viên đánh giá sản phẩm học tập của sinh viên. Nhà trường cũng cần thiết kế hoạt động thực tập với mục tiêu rõ ràng, trong đó hai bên thống nhất sinh viên sẽ thực hiện nhiệm vụ gì, đạt được năng lực nào và được đánh giá theo tiêu chí nào.
Đối với những ngành công nghệ cần thiết bị và phòng thực hành hiện đại, có thể phát triển các phòng thí nghiệm hoặc không gian thực hành dùng chung giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đây vừa là môi trường học tập cho sinh viên, vừa tạo điều kiện để giảng viên và doanh nghiệp phối kết hợp nghiên cứu, thử nghiệm và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Một giải pháp quan trọng khác, theo TS Nguyễn Minh Giám, là tạo điều kiện để giảng viên được cập nhật kiến thức tại doanh nghiệp. Công nghệ thay đổi nhanh, vì vậy nếu giảng viên không thường xuyên tiếp xúc với công nghệ và quy trình thực tế thì rất khó bảo đảm nội dung đào tạo luôn phù hợp.
Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá hiệu quả sự liên kết dựa trên kết quả thực chất, chẳng hạn như mức độ tham gia của doanh nghiệp vào chương trình đào tạo, chất lượng và năng lực của sinh viên sau thực tập, mức độ phù hợp giữa chuẩn đầu ra và yêu cầu nghề nghiệp, cũng như phản hồi của doanh nghiệp về chất lượng nguồn nhân lực.
Sinh viên Trường Đại học CMC. Ảnh: NTCC
Tạo động lực, cú hích từ cơ chế, chính sách
Đưa kiến nghị, đề xuất để liên kết nhà trường - doanh nghiệp đi vào thực chất, ThS Đỗ Ngọc Anh cho rằng, cần đồng thời tạo động lực cho cả hai phía. Nghị quyết 71-NQ/TW cũng đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết nhà trường - doanh nghiệp và tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Trước hết, theo ThS Đỗ Ngọc Anh, cần có cơ chế khuyến khích mạnh hơn để doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu trong trường đại học. Những khoản doanh nghiệp dành cho phòng thí nghiệm, học bổng, đào tạo sinh viên, cử chuyên gia giảng dạy, đặt hàng nghiên cứu hay phát triển chương trình cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, từ đó có những chính sách hỗ trợ phù hợp.
Thứ hai, đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, cần tăng cường cơ chế đặt hàng đào tạo và đặt hàng nghiên cứu. Doanh nghiệp và các ngành kinh tế cần đưa ra bài toán, yêu cầu về nhân lực, sản phẩm và công nghệ; trường đại học tổ chức các nhóm giảng viên, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh tham gia giải quyết. Khi doanh nghiệp thực sự “ra đề bài”, kết quả đào tạo và nghiên cứu sẽ gần thị trường hơn.
Thứ ba, nên phát triển các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu dùng chung giữa Nhà nước - trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp. Nhất là đối với các lĩnh vực đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn như bán dẫn, AI, robot, tự động hóa, công nghệ sinh học.
Không nhất thiết mỗi trường phải sở hữu đầy đủ mọi thiết bị; quan trọng là tạo được cơ chế để người học và nhà khoa học được tiếp cận hạ tầng hiện đại. Việc hợp tác đào tạo trong các quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thích ứng hơn theo hướng khuyến khích sử dụng cơ sở vật chất, nền tảng công nghệ… của các đơn vị phối hợp trong hợp tác đào tạo đại học.
Thứ tư, cần tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học chủ động và linh hoạt hơn trong cập nhật chương trình đào tạo. Công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, vì vậy bên cạnh nền tảng kiến thức cốt lõi, các trường cần có khả năng bổ sung kịp thời các mô-đun, học phần, dự án hoặc nội dung công nghệ mới theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Thứ năm, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ, dữ liệu, khai thác cơ sở vật chất, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phân chia lợi ích giữa trường đại học và doanh nghiệp. Nếu những vấn đề này rõ ràng, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn hơn khi đưa công nghệ, dữ liệu và các bài toán thực vào trường đại học.
“Khi doanh nghiệp tham gia từ đầu chứ không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình đào tạo, sinh viên được học trong môi trường gắn với công nghệ và những bài toán thực, còn nhà trường trở thành một phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thì liên kết nhà trường - doanh nghiệp trong đào tạo STEM và công nghệ chiến lược mới thực sự tạo ra giá trị bền vững”, ThS Đỗ Ngọc Anh cho hay.
Nhìn ở tầm vĩ mô, để giải bài toán nhân lực công nghệ chiến lược - STEM, PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh cần một cú hích về cơ chế nhằm thúc đẩy mô hình hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp phát triển theo hướng bền vững, dài hạn. Cần có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp công nghệ xem trường đại học là một phần trong chiến lược R&D của mình - cùng đầu tư phòng Lab chuẩn quốc tế, cấp học bổng tài năng và đồng thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu.
Với những cơ sở giáo dục đại học có lợi thế gắn liền với hệ sinh thái công nghệ như Trường Đại học CMC, việc kết nối đồng bộ các nguồn lực này sẽ hình thành một vòng tuần hoàn đổi mới sáng tạo khép kín: doanh nghiệp đưa ra đề bài; nhà trường định hướng đào tạo, nghiên cứu; giảng viên và sinh viên cùng giải quyết; kết quả nghiên cứu được thương mại hóa để phục vụ lại doanh nghiệp và nền kinh tế. Đây chính là chìa khóa để giáo dục đại học Việt Nam bứt phá và tự chủ nguồn nhân lực công nghệ cao trong kỷ nguyên AI.
“Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược - STEM hiện nay rất cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang phát triển nhanh, nhà trường không thể chỉ đào tạo dựa trên những kiến thức có sẵn trong giáo trình mà cần gắn quá trình đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động.
Doanh nghiệp cũng không nên chỉ được xem là nơi tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp mà cần tham gia vào quá trình đào tạo ngay từ đầu, từ xác định nhu cầu nhân lực, góp ý cho chương trình đào tạo, tổ chức thực hành, thực tập đến đánh giá năng lực người học”.
TS Nguyễn Minh Giám
Giáo viên Trường Tiểu học An Thạnh, phường An Thạnh, TPHCM trong tiết dạy STEM. Ảnh: NVCC
Theo các chuyên gia, doanh nghiệp cần thực sự trở thành đối tác của nhà trường, cùng tham gia từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình đến đưa bài toán thực tế vào đào tạo và đánh giá năng lực sinh viên.
Liên kết nhà trường - doanh nghiệp nhìn từ thực tiễn
Liên kết giữa cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược và STEM đang chuyển từ một hoạt động mang tính hỗ trợ sang yêu cầu tất yếu của quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Điều này càng rõ khi Việt Nam đã xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, gồm công nghệ số, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, chip bán dẫn, an ninh mạng và lượng tử, năng lượng và vật liệu tiên tiến... Trong những lĩnh vực này, tốc độ đổi mới công nghệ rất nhanh. Nếu chương trình đào tạo chỉ vận hành trong phạm vi nhà trường thì khó theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Chia sẻ nhận định trên, ThS Đỗ Ngọc Anh - Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội cho rằng, thời gian qua, sự gắn kết giữa trường đại học và doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều hơn vào góp ý chương trình, tổ chức thực hành, thực tập, cử chuyên gia trao đổi với sinh viên, đặt hàng nghiên cứu và tuyển dụng. Về phía các trường đại học, nhận thức về việc đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường lao động cũng ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, mức độ liên kết chưa đồng đều và ở một số nơi vẫn còn thiên về “phần cuối” của quá trình đào tạo, chẳng hạn tiếp nhận thực tập hoặc tuyển dụng sinh viên. Trong khi đó, yêu cầu mới đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn, từ dự báo nhu cầu nhân lực, xác định chuẩn đầu ra, xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo đến nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Một vấn đề khác được ThS Đỗ Ngọc Anh nhắc đến là chu kỳ thay đổi của công nghệ ngày càng ngắn, trong khi đổi mới chương trình, đầu tư phòng thí nghiệm và phát triển đội ngũ cần thời gian và nguồn lực. Không phải doanh nghiệp nào cũng có điều kiện bố trí chuyên gia, thiết bị, dữ liệu phục vụ đào tạo. Với các công nghệ mới còn có những vấn đề cần giải quyết liên quan đến bảo mật dữ liệu, sở hữu trí tuệ, tài sản hình thành từ nghiên cứu và phân chia lợi ích giữa các bên.
Từ đó, ThS Đỗ Ngọc Anh nhấn mạnh điều cần thay đổi căn bản là chuyển doanh nghiệp từ vị trí “sử dụng sản phẩm đào tạo” thành “đối tác cùng tạo ra sản phẩm đào tạo”. Đây mới là nền tảng để mối liên kết đi vào chiều sâu và tạo ra nguồn nhân lực STEM thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển.
Cũng chia sẻ thực trạng, PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng - Hiệu trưởng Trường Đại học CMC đánh giá liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược, STEM hiện có nhiều thuận lợi nhưng còn khoảng cách giữa hợp tác hình thức và hợp tác thực chất. Không ít mô hình hợp tác vẫn chủ yếu dừng ở ký kết, hội thảo, tham quan, thực tập hoặc tuyển dụng cuối khóa; trong khi tốc độ thay đổi của công nghệ, đặc biệt là AI, nhanh hơn nhiều so với chu kỳ cập nhật chương trình đào tạo.
Bên cạnh đó, nhà trường và doanh nghiệp cũng có nhịp vận hành khác nhau; chuyên gia doanh nghiệp có kinh nghiệm thực tế nhưng không phải lúc nào cũng có đủ thời gian và phương pháp để tham gia đào tạo. Ngoài ra còn có những vấn đề về dữ liệu, bảo mật, sở hữu trí tuệ và cách đánh giá kết quả học tập khi sinh viên tham gia dự án thực tế.
Trường Đại học Mở Hà Nội ký kết với gần 50 tập đoàn, doanh nghiệp về phối hợp phát triển năng lực cho sinh viên trong năm học mới. Ảnh: NTCC
Nhà trường và doanh nghiệp tham gia phát triển nguồn nhân lực
Đưa giải pháp, theo PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng, điều cần đo không phải trường đã ký với bao nhiêu doanh nghiệp, mà là doanh nghiệp đã tham gia vào quá trình hình thành năng lực của sinh viên đến đâu.
Tại Trường Đại học CMC, mô hình Viện - Trường - Doanh nghiệp được thực hiện theo hướng doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, thay vì chỉ tiếp nhận sinh viên ở giai đoạn thực tập. Doanh nghiệp cùng góp ý chuẩn đầu ra, cập nhật nội dung đào tạo, đưa các bài toán thực tế vào môn học, đồng thời tham gia hướng dẫn dự án và đồ án của sinh viên.
Một điểm được Trường Đại học CMC đặc biệt coi trọng là học kỳ khoảng 4 tháng tại doanh nghiệp. Khoảng thời gian này đủ để sinh viên thực sự tham gia vào một chu trình công việc, được giao nhiệm vụ cụ thể, có người hướng dẫn, có sản phẩm và kết quả để đánh giá. Với các ngành STEM, nhà trường hướng tới việc ngày càng nhiều dự án, đồ án tốt nghiệp xuất phát từ chính những vấn đề doanh nghiệp đang cần giải quyết. Qua đó, sinh viên không chỉ học kiến thức mà còn từng bước hình thành năng lực giải quyết các bài toán thực tế.
Tuy nhiên, doanh nghiệp không thay trường thực hiện trách nhiệm đào tạo. Trường chịu trách nhiệm về chuẩn học thuật, chuẩn đầu ra và chất lượng; doanh nghiệp đưa vào bài toán thực tế; viện nghiên cứu giúp chuyển tri thức thành công nghệ. Thước đo quan trọng nhất vẫn là sau quá trình đó, sinh viên có thực sự giải quyết được những vấn đề của thực tế và thích ứng được với sự thay đổi rất nhanh của công nghệ hay không.
TS. Nguyễn Minh Giám - Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một, TPHCM thì cho rằng, trước hết cần thay đổi cách tiếp cận từ mô hình “nhà trường đào tạo, doanh nghiệp tuyển dụng” sang mô hình nhà trường và doanh nghiệp cùng tham gia phát triển nguồn nhân lực. Doanh nghiệp cần được tham gia ngay từ khâu xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo.
Với các ngành STEM, có thể tăng cường đào tạo theo dự án, học tập giải quyết vấn đề và đưa các bài toán thực tế của doanh nghiệp vào quá trình học tập. Sinh viên không chỉ học kiến thức mà cần được thực hành, thử nghiệm, thiết kế sản phẩm và giải quyết những vấn đề gắn với công việc sau này.
Bên cạnh đó, cần mở rộng vai trò của chuyên gia ở doanh nghiệp trong giảng dạy. Chuyên gia có thể tham gia các chuyên đề, hướng dẫn dự án, cố vấn nghề nghiệp hoặc cùng giảng viên đánh giá sản phẩm học tập của sinh viên. Nhà trường cũng cần thiết kế hoạt động thực tập với mục tiêu rõ ràng, trong đó hai bên thống nhất sinh viên sẽ thực hiện nhiệm vụ gì, đạt được năng lực nào và được đánh giá theo tiêu chí nào.
Đối với những ngành công nghệ cần thiết bị và phòng thực hành hiện đại, có thể phát triển các phòng thí nghiệm hoặc không gian thực hành dùng chung giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đây vừa là môi trường học tập cho sinh viên, vừa tạo điều kiện để giảng viên và doanh nghiệp phối kết hợp nghiên cứu, thử nghiệm và giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Một giải pháp quan trọng khác, theo TS Nguyễn Minh Giám, là tạo điều kiện để giảng viên được cập nhật kiến thức tại doanh nghiệp. Công nghệ thay đổi nhanh, vì vậy nếu giảng viên không thường xuyên tiếp xúc với công nghệ và quy trình thực tế thì rất khó bảo đảm nội dung đào tạo luôn phù hợp.
Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá hiệu quả sự liên kết dựa trên kết quả thực chất, chẳng hạn như mức độ tham gia của doanh nghiệp vào chương trình đào tạo, chất lượng và năng lực của sinh viên sau thực tập, mức độ phù hợp giữa chuẩn đầu ra và yêu cầu nghề nghiệp, cũng như phản hồi của doanh nghiệp về chất lượng nguồn nhân lực.
Sinh viên Trường Đại học CMC. Ảnh: NTCC
Tạo động lực, cú hích từ cơ chế, chính sách
Đưa kiến nghị, đề xuất để liên kết nhà trường - doanh nghiệp đi vào thực chất, ThS Đỗ Ngọc Anh cho rằng, cần đồng thời tạo động lực cho cả hai phía. Nghị quyết 71-NQ/TW cũng đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết nhà trường - doanh nghiệp và tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Trước hết, theo ThS Đỗ Ngọc Anh, cần có cơ chế khuyến khích mạnh hơn để doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo và nghiên cứu trong trường đại học. Những khoản doanh nghiệp dành cho phòng thí nghiệm, học bổng, đào tạo sinh viên, cử chuyên gia giảng dạy, đặt hàng nghiên cứu hay phát triển chương trình cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, từ đó có những chính sách hỗ trợ phù hợp.
Thứ hai, đối với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, cần tăng cường cơ chế đặt hàng đào tạo và đặt hàng nghiên cứu. Doanh nghiệp và các ngành kinh tế cần đưa ra bài toán, yêu cầu về nhân lực, sản phẩm và công nghệ; trường đại học tổ chức các nhóm giảng viên, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh tham gia giải quyết. Khi doanh nghiệp thực sự “ra đề bài”, kết quả đào tạo và nghiên cứu sẽ gần thị trường hơn.
Thứ ba, nên phát triển các phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu dùng chung giữa Nhà nước - trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp. Nhất là đối với các lĩnh vực đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn như bán dẫn, AI, robot, tự động hóa, công nghệ sinh học.
Không nhất thiết mỗi trường phải sở hữu đầy đủ mọi thiết bị; quan trọng là tạo được cơ chế để người học và nhà khoa học được tiếp cận hạ tầng hiện đại. Việc hợp tác đào tạo trong các quy định mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thích ứng hơn theo hướng khuyến khích sử dụng cơ sở vật chất, nền tảng công nghệ… của các đơn vị phối hợp trong hợp tác đào tạo đại học.
Thứ tư, cần tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học chủ động và linh hoạt hơn trong cập nhật chương trình đào tạo. Công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, vì vậy bên cạnh nền tảng kiến thức cốt lõi, các trường cần có khả năng bổ sung kịp thời các mô-đun, học phần, dự án hoặc nội dung công nghệ mới theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường.
Thứ năm, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ, dữ liệu, khai thác cơ sở vật chất, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phân chia lợi ích giữa trường đại học và doanh nghiệp. Nếu những vấn đề này rõ ràng, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn hơn khi đưa công nghệ, dữ liệu và các bài toán thực vào trường đại học.
“Khi doanh nghiệp tham gia từ đầu chứ không chỉ xuất hiện ở cuối quá trình đào tạo, sinh viên được học trong môi trường gắn với công nghệ và những bài toán thực, còn nhà trường trở thành một phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thì liên kết nhà trường - doanh nghiệp trong đào tạo STEM và công nghệ chiến lược mới thực sự tạo ra giá trị bền vững”, ThS Đỗ Ngọc Anh cho hay.
Nhìn ở tầm vĩ mô, để giải bài toán nhân lực công nghệ chiến lược - STEM, PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh cần một cú hích về cơ chế nhằm thúc đẩy mô hình hợp tác Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp phát triển theo hướng bền vững, dài hạn. Cần có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn để doanh nghiệp công nghệ xem trường đại học là một phần trong chiến lược R&D của mình - cùng đầu tư phòng Lab chuẩn quốc tế, cấp học bổng tài năng và đồng thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu.
Với những cơ sở giáo dục đại học có lợi thế gắn liền với hệ sinh thái công nghệ như Trường Đại học CMC, việc kết nối đồng bộ các nguồn lực này sẽ hình thành một vòng tuần hoàn đổi mới sáng tạo khép kín: doanh nghiệp đưa ra đề bài; nhà trường định hướng đào tạo, nghiên cứu; giảng viên và sinh viên cùng giải quyết; kết quả nghiên cứu được thương mại hóa để phục vụ lại doanh nghiệp và nền kinh tế. Đây chính là chìa khóa để giáo dục đại học Việt Nam bứt phá và tự chủ nguồn nhân lực công nghệ cao trong kỷ nguyên AI.
“Liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo các ngành công nghệ chiến lược - STEM hiện nay rất cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang phát triển nhanh, nhà trường không thể chỉ đào tạo dựa trên những kiến thức có sẵn trong giáo trình mà cần gắn quá trình đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động.
Doanh nghiệp cũng không nên chỉ được xem là nơi tuyển dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp mà cần tham gia vào quá trình đào tạo ngay từ đầu, từ xác định nhu cầu nhân lực, góp ý cho chương trình đào tạo, tổ chức thực hành, thực tập đến đánh giá năng lực người học”.
GD&TĐ - Trường Tiểu học Hoàng Văn Thụ bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, đưa công nghệ vào lớp học để nâng cao chất lượng giáo dục.
2026-10-20 16:05
Hàng vạn người dự khai mạc Lễ hội chùa Keo Hưng Yên mùa Thu năm 2026
GD&TĐ - Tối 19/10, tỉnh Hưng Yên tổ chức khai mạc Lễ hội chùa Keo mùa Thu năm 2026 thu hút hàng chục nghìn người dân, du khách tham dự.
2026-10-20 16:05
TUEBA đổi mới đào tạo, lấy trải nghiệm thực tế và công nghệ AI làm điểm nhấn
GD&TĐ - Bước vào năm học 2026 - 2027, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh (TUEBA) - ĐH Thái Nguyên tiếp tục đổi mới trong công tác đào tạo.
2026-10-20 16:04
Trường Cao đẳng Đà Nẵng mở rộng hợp tác với Nhật Bản
GD&TĐ - Trường Cao đẳng Đà Nẵng mong muốn tăng cường hợp tác đào tạo, mở rộng cơ hội học tập và việc làm cho sinh viên tại Nhật Bản.
2026-10-20 16:04
Để phòng học bộ môn phát huy hiệu quả ở vùng khó
GD&TĐ - Đầu tư phòng học bộ môn là một trong những giải pháp quan trọng để triển khai Chương trình GDPT 2018, nhất là tại các trường vùng khó.
2026-10-20 16:04
Tuyển sinh, đào tạo Ngành công nghệ chiến lược - STEM: Khi nào doanh nghiệp thành đối tác thực sự?
GD&TĐ - Tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ đặt ra yêu cầu mới đối với đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược và STEM.
2026-10-20 16:02
Một nửa sức mạnh của chúng ta
GD&TĐ - “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người”.
2026-10-20 16:02
Nâng chất lượng nhân lực ngành Luật
GD&TĐ - Với đặc thù nghề nghiệp, quy định điểm sàn ngành Luật tối thiểu 20 điểm nhằm nâng chất lượng nhân lực đầu vào với ngành này.
2026-10-20 16:01
Sốt xuất huyết tăng tại An Giang
GD&TĐ - Từ đầu năm 2026 đến nay, An Giang ghi nhận 7.384 ca sốt xuất huyết Dengue và 6.017 ca tay chân miệng, đều tăng so với cùng kỳ năm trước.
2026-10-20 16:01
Giúp học sinh nhận diện cạm bẫy, tự bảo vệ trên không gian mạng
GD&TĐ - Sử dụng thành thạo điện thoại chưa đồng nghĩa với có khả năng tự bảo vệ trên mạng. Từ những tình huống gần gũi, buổi ngoại khóa tại Trường THPT Mạc Đĩnh Chi - Nam Sách (TP Hải Phòng) giúp học sinh hiểu về chuyển đổi số, nhận diện thủ đoạn thao túng và ứng xử có trách nhiệm trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.