Giảm nghèo bền vững từ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
2025/11/27 09:06
GD&TĐ - Đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực nông thôn, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Tuyên Quang được chú trọng.
Trường Trung cấp DTNT– GDTX Bắc Quang đã và đang chứng minh rằng, đào tạo nghề chính là chìa khóa vàng mở cánh cửa thoát nghèo bền vững.
Nền kinh tế nông thôn hiện đại không còn là hình ảnh "con trâu đi trước, cái cày theo sau" đơn thuần. Nhu cầu về người biết quản lý trang trại theo tiêu chuẩn VietGAP, người có thể sửa chữa máy cày, máy bơm, lắp đặt điện mặt trời hay tiêm phòng cho đàn gia súc theo phương pháp khoa học đang tăng lên đột biến.
Các tiết học với giáo cụ trực quan sinh động. (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Trường Trung cấp DTNT–GDTX Bắc Quang đã nhạy bén nắm bắt định hướng này. Với phương châm “lấy học sinh làm trung tâm, lấy chất lượng làm mục tiêu”, nhà trường đã tinh gọn và tập trung đào tạo hơn 10 ngành nghề sát sườn với nhu cầu thực tế. Các ngành nghề chủ lực như Kỹ thuật nông nghiệp, Chăn nuôi–Thú y, Điện dân dụng, và Sửa chữa máy nông nghiệp không chỉ mang tính thời vụ mà còn là “nghề không bao giờ thiếu việc” ở khu vực nông thôn.
“Chúng tôi khảo sát nhu cầu của hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ sản xuất tại các xã để điều chỉnh chương trình. Điều quan trọng nhất không chỉ là dạy kiến thức mà là dạy kỹ năng ứng dụng, tạo ra sản phẩm ngay lập tức,” ông Phạm Văn Định, Phó Hiệu trưởng nhà trường, chia sẻ.
Để phá bỏ rào cản về tâm lý tự ti và học lực không cao của phần lớn học sinh là người dân tộc thiểu số (Tày, Dao, Nùng, Mông) đến từ các xã khó khăn, nhà trường đã mạnh dạn tăng cường thời lượng thực hành lên 60–70%, theo đúng phương châm “cầm tay chỉ việc”.
Học sinh không chỉ học trên lý thuyết. Ngay trong khuôn viên trường, các em được tiếp xúc với những mô hình sản xuất thực tế: khu trồng rau an toàn, chuồng trại chăn nuôi theo hướng hữu cơ, xưởng sửa chữa máy nông nghiệp, phòng thực hành điện–điện tử. Đây không chỉ là nơi học mà còn là nơi các em thực sự làm ra sản phẩm, giải quyết các vấn đề kỹ thuật.
Chính môi trường thực hành này đã làm thay đổi nhận thức của học viên. Ông Định nhận định: “Đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số không chỉ là dạy kỹ năng mà quan trọng hơn là tạo niềm tin để các em mạnh dạn lập nghiệp. Nhiều em trước đây rất tự ti, nhưng khi được giao nhiệm vụ thực hành, các em trở nên say mê, tự tin và có định hướng rõ ràng hơn cho tương lai.”
Học viên lớp Công nghệ ô tô tìm hiểu kỹ năng bảo dưỡng động cơ tại xưởng. (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Hiệu quả của mô hình này được thể hiện rõ ràng, trong 3 năm gần đây, tỷ lệ học sinh của trường có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 80%. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt đối với một trường nội trú tại vùng núi.
Sự thành công này đến từ mô hình liên kết ba bên: Nhà trường – Doanh nghiệp – Địa phương. Hàng năm, nhà trường chủ động ký kết hợp tác với các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, trang trại lớn, đơn vị cơ khí trong và ngoài tỉnh.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, học sinh được cập nhật các kỹ thuật mới nhất thông qua hợp tác với Trung tâm Khuyến nông, Viện Di truyền Nông nghiệp như lai tạo giống, tưới nhỏ giọt, chăn nuôi hữu cơ.
Đối với lĩnh vực kỹ thuật, nhà trường liên kết với các đơn vị xây lắp, cơ khí giúp học sinh tiếp cận công nghệ mới.
Kết quả là đầu ra chất lượng cao được doanh nghiệp tin tưởng. Nhiều học sinh sau thời gian thực tập đã được giữ lại làm việc, với mức thu nhập ổn định từ 8-10 triệu đồng/người/tháng, một mức thu nhập cao so với mặt bằng chung của lao động miền núi, góp phần trực tiếp đưa gia đình thoát nghèo.
Giá trị bền vững nhất của chương trình đào tạo chính là việc tạo ra những “Kỹ sư chân đất” quay về quê hương lập nghiệp, trực tiếp đóng góp vào công cuộc giảm nghèo chung của cộng đồng.
Điển hình là trường hợp em Lý Văn Kiên (dân tộc Tày), sau khi học nghề Chăn nuôi–Thú y đã mở dịch vụ tiêm phòng, chăm sóc đàn gia súc cho cả thôn, thu nhập đều đặn 6–8 triệu đồng/tháng. Hay em Nguyễn Hoàng Long học nghề Điện dân dụng, ngoài việc mở cửa hàng sửa chữa còn hỗ trợ bà con lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái.
Những học viên này đã trở thành tuyên truyền viên, kỹ thuật viên tại chính thôn bản của mình, góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ kỹ của bà con nông dân. Họ không chỉ thoát nghèo cho bản thân mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy người dân xung quanh áp dụng kỹ thuật canh tác mới, phát triển kinh tế vườn đồi, hình thành các tổ dịch vụ chuyên nghiệp.
Bên cạnh đào tạo kỹ năng cứng, việc trang bị kỹ năng mềm như giao tiếp, an toàn lao động, tác phong công nghiệp cho học viên cũng là yếu tố then chốt, giúp họ thích nghi tốt hơn và có tính kỷ luật cao hơn so với mặt bằng chung của lao động nông thôn.
Nguồn nhân lực kỹ thuật trẻ từ Trường Trung cấp DTNT–GDTX Bắc Quang đang là minh chứng sống cho thấy, đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là cho đối tượng thanh niên dân tộc thiểu số, không chỉ là một khoản chi mà là một khoản đầu tư chiến lược vào công cuộc giảm nghèo đa chiều, tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, giúp nông thôn đổi mới và phát triển bền vững.
Đào tạo nguồn nhân lực, hướng giảm nghèo bền vững. (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Trường Trung cấp DTNT– GDTX Bắc Quang đã và đang chứng minh rằng, đào tạo nghề chính là chìa khóa vàng mở cánh cửa thoát nghèo bền vững.
Nền kinh tế nông thôn hiện đại không còn là hình ảnh "con trâu đi trước, cái cày theo sau" đơn thuần. Nhu cầu về người biết quản lý trang trại theo tiêu chuẩn VietGAP, người có thể sửa chữa máy cày, máy bơm, lắp đặt điện mặt trời hay tiêm phòng cho đàn gia súc theo phương pháp khoa học đang tăng lên đột biến.
Các tiết học với giáo cụ trực quan sinh động. (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Trường Trung cấp DTNT–GDTX Bắc Quang đã nhạy bén nắm bắt định hướng này. Với phương châm “lấy học sinh làm trung tâm, lấy chất lượng làm mục tiêu”, nhà trường đã tinh gọn và tập trung đào tạo hơn 10 ngành nghề sát sườn với nhu cầu thực tế. Các ngành nghề chủ lực như Kỹ thuật nông nghiệp, Chăn nuôi–Thú y, Điện dân dụng, và Sửa chữa máy nông nghiệp không chỉ mang tính thời vụ mà còn là “nghề không bao giờ thiếu việc” ở khu vực nông thôn.
“Chúng tôi khảo sát nhu cầu của hợp tác xã, doanh nghiệp và hộ sản xuất tại các xã để điều chỉnh chương trình. Điều quan trọng nhất không chỉ là dạy kiến thức mà là dạy kỹ năng ứng dụng, tạo ra sản phẩm ngay lập tức,” ông Phạm Văn Định, Phó Hiệu trưởng nhà trường, chia sẻ.
Để phá bỏ rào cản về tâm lý tự ti và học lực không cao của phần lớn học sinh là người dân tộc thiểu số (Tày, Dao, Nùng, Mông) đến từ các xã khó khăn, nhà trường đã mạnh dạn tăng cường thời lượng thực hành lên 60–70%, theo đúng phương châm “cầm tay chỉ việc”.
Học sinh không chỉ học trên lý thuyết. Ngay trong khuôn viên trường, các em được tiếp xúc với những mô hình sản xuất thực tế: khu trồng rau an toàn, chuồng trại chăn nuôi theo hướng hữu cơ, xưởng sửa chữa máy nông nghiệp, phòng thực hành điện–điện tử. Đây không chỉ là nơi học mà còn là nơi các em thực sự làm ra sản phẩm, giải quyết các vấn đề kỹ thuật.
Chính môi trường thực hành này đã làm thay đổi nhận thức của học viên. Ông Định nhận định: “Đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc thiểu số không chỉ là dạy kỹ năng mà quan trọng hơn là tạo niềm tin để các em mạnh dạn lập nghiệp. Nhiều em trước đây rất tự ti, nhưng khi được giao nhiệm vụ thực hành, các em trở nên say mê, tự tin và có định hướng rõ ràng hơn cho tương lai.”
Học viên lớp Công nghệ ô tô tìm hiểu kỹ năng bảo dưỡng động cơ tại xưởng. (Ảnh: Hoàng Ngọc)
Hiệu quả của mô hình này được thể hiện rõ ràng, trong 3 năm gần đây, tỷ lệ học sinh của trường có việc làm sau tốt nghiệp đạt trên 80%. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt đối với một trường nội trú tại vùng núi.
Sự thành công này đến từ mô hình liên kết ba bên: Nhà trường – Doanh nghiệp – Địa phương. Hàng năm, nhà trường chủ động ký kết hợp tác với các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, trang trại lớn, đơn vị cơ khí trong và ngoài tỉnh.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, học sinh được cập nhật các kỹ thuật mới nhất thông qua hợp tác với Trung tâm Khuyến nông, Viện Di truyền Nông nghiệp như lai tạo giống, tưới nhỏ giọt, chăn nuôi hữu cơ.
Đối với lĩnh vực kỹ thuật, nhà trường liên kết với các đơn vị xây lắp, cơ khí giúp học sinh tiếp cận công nghệ mới.
Kết quả là đầu ra chất lượng cao được doanh nghiệp tin tưởng. Nhiều học sinh sau thời gian thực tập đã được giữ lại làm việc, với mức thu nhập ổn định từ 8-10 triệu đồng/người/tháng, một mức thu nhập cao so với mặt bằng chung của lao động miền núi, góp phần trực tiếp đưa gia đình thoát nghèo.
Giá trị bền vững nhất của chương trình đào tạo chính là việc tạo ra những “Kỹ sư chân đất” quay về quê hương lập nghiệp, trực tiếp đóng góp vào công cuộc giảm nghèo chung của cộng đồng.
Điển hình là trường hợp em Lý Văn Kiên (dân tộc Tày), sau khi học nghề Chăn nuôi–Thú y đã mở dịch vụ tiêm phòng, chăm sóc đàn gia súc cho cả thôn, thu nhập đều đặn 6–8 triệu đồng/tháng. Hay em Nguyễn Hoàng Long học nghề Điện dân dụng, ngoài việc mở cửa hàng sửa chữa còn hỗ trợ bà con lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái.
Những học viên này đã trở thành tuyên truyền viên, kỹ thuật viên tại chính thôn bản của mình, góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ kỹ của bà con nông dân. Họ không chỉ thoát nghèo cho bản thân mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy người dân xung quanh áp dụng kỹ thuật canh tác mới, phát triển kinh tế vườn đồi, hình thành các tổ dịch vụ chuyên nghiệp.
Bên cạnh đào tạo kỹ năng cứng, việc trang bị kỹ năng mềm như giao tiếp, an toàn lao động, tác phong công nghiệp cho học viên cũng là yếu tố then chốt, giúp họ thích nghi tốt hơn và có tính kỷ luật cao hơn so với mặt bằng chung của lao động nông thôn.
Nguồn nhân lực kỹ thuật trẻ từ Trường Trung cấp DTNT–GDTX Bắc Quang đang là minh chứng sống cho thấy, đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là cho đối tượng thanh niên dân tộc thiểu số, không chỉ là một khoản chi mà là một khoản đầu tư chiến lược vào công cuộc giảm nghèo đa chiều, tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, giúp nông thôn đổi mới và phát triển bền vững.
Tiêu chí xếp hạng đại học không mâu thuẫn với mục tiêu giáo dục
GD&TĐ - Tiêu chí xếp hạng là công cụ đo lường, cải tiến chất lượng, hiện thực hóa mục tiêu giáo dục và nâng cao giá trị phục vụ người học, xã hội.
2026-07-18 01:15
Quảng Trị đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích đầu tư trường tư thục
GD&TĐ - Nhằm giải quyết áp lực tuyển sinh bậc THCS và THPT, Quảng Trị đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, khuyến khích phát triển các trường ngoài công lập.
2026-07-18 01:15
Môi trường đào tạo quốc tế ngay tại Thái Nguyên
GD&TĐ - Khoa Quốc tế (Đại học Thái Nguyên) đã và đang tạo dựng môi trường đào tạo theo chuẩn quốc tế, giúp sinh viên phát triển năng lực toàn diện.
2026-07-18 01:13
Gỡ vướng chính sách, bảo đảm quyền lợi cho giáo viên và học sinh Quảng Trị
GD&TĐ - Tại kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh Quảng Trị, lãnh đạo Sở GD&ĐT giải đáp các nội dung liên quan đến chế độ chính sách đối với giáo viên, học sinh.
2026-07-18 01:12
Giám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa: Điểm nghẽn lớn nhất của giáo dục là thiếu giáo viên
GD&TĐ - Thiếu gần 9.000 giáo viên, hơn 5.000 phòng học và quy mô học sinh tăng nhanh đang tạo áp lực lớn đối với ngành Giáo dục Thanh Hóa.
2026-07-18 01:11
Muốn tăng trưởng hai con số phải đầu tư cho giáo dục
GD&TĐ - Hưng Yên cần phát huy lợi thế Khu đại học Phố Hiến, có chính sách đột phá cho giáo dục và đẩy mạnh sắp xếp trường lớp.
2026-07-18 01:10
Thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động
GD&TĐ - Theo các chuyên gia, cần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thị trường lao động nhằm thúc đẩy công nhận kỹ năng hướng tới dịch chuyển lao động.
2026-07-18 01:09
Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thành tổ hợp chiến lược về tri thức
GD&TĐ - Phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội thành tổ hợp chiến lược về tri thức, công nghệ đổi mới sáng tạo là đề án trọng tâm, giữ vai trò định hướng tổng thể.
2026-07-18 01:08
Phát huy vai trò nòng cốt trong đào tạo ngoại ngữ và hội nhập quốc tế
GD&TĐ - Trường Ngoại ngữ (Đại học Thái Nguyên) đạt nhiều kết quả nổi bật trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.
2026-07-18 01:08
Nhà giáo giữ bình yên nơi cực Tây Tổ quốc
GD&TĐ - Ở Mường Nhé, ông Phạm Văn Khiêm không chỉ được biết đến là người gieo chữ mà còn là điểm tựa giúp dân bản tìm lại con đường sáng.