Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Dương Thị Mỹ Hạnh

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Khả năng tiếp cận bài học của học sinh miền núi: Tháo 'điểm nghẽn' từ thực tiễn

2026/03/23 16:44

GD&TĐ - Từ thực tiễn 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (Sở GD&ĐT Đắk Lắk), nhiều nút thắt trong tiếp cận bài học của học sinh miền núi dần được nhận diện, từng bước tháo gỡ bằng những cách làm linh hoạt, sát thực tiễn lớp học.



Điểm nghẽn từ lớp học vùng khó

Trong tiết học Khoa học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Vụ Bổn, Đắk Lắk), khi giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình ảnh vòng tuần hoàn nước và giải thích hiện tượng, cả lớp chững lại vài giây.
Một cánh tay giơ lên. Câu trả lời ngắn: “Có mưa… nước bay lên ạ”.
Là “chủ nhân” của tiết dạy trên, thay vì nhận xét ngay cho câu trả lời ấy, cô giáo Hồ Thị Mai Thương hỏi tiếp: “Vì sao nước bay lên?”.
Lúc này, hầu hết học sinh lớp 5 của cô cúi xuống trong im lặng. “Các em hiểu, nhưng không nói được”, cô Thương chia sẻ sau giờ dạy và cho rằng, học sinh ở đây phần lớn là người dân tộc thiểu số, điều kiện sống còn khó khăn. Dù tiếp nhận kiến thức khá nhanh qua quan sát, nhưng khi chuyển sang diễn đạt bằng tiếng Việt, nhất là ngôn ngữ mang tính khái quát lại lúng túng.
Tương tự, ở môn Tiếng Việt, cô Nguyễn Hồng Huế - giáo viên Trường Tiểu học Phan Đình Phùng (xã Ea Kly) nhận thấy, nhiều học sinh còn hạn chế về phát âm, vốn từ và khả năng diễn đạt.
“Học sinh ngại nói vì sợ sai. Càng ít nói, càng ít cơ hội sửa. Vòng lặp này khiến việc tiếp cận bài học bị chậm lại”, cô Huế nhận định.
Trong khi đó, ở môn Toán, cô Phạm Thị Hiền - Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (xã Ea Phê), lại nhìn vấn đề từ góc khác. “Nếu chỉ nhìn vào đáp số đúng hay sai thì rất nhanh. Nhưng nếu muốn biết học sinh nghĩ gì, làm thế nào để ra kết quả đó, cần thời gian và cách đánh giá khác”, cô Hiền chia sẻ.
Theo cô, nhiều học sinh có thể làm đúng bài, nhưng chưa chắc đã hiểu bản chất. Ngược lại, có em làm sai nhưng cách tư duy lại đúng hướng. “Điểm chung ở đây là việc tiếp cận bài học không chỉ là hiểu kiến thức, mà còn hiểu và thể hiện được quá trình học”, cô Hiền nói thêm.
Có thể thấy, khoảng lặng trong những lớp học ấy không phải là thiếu kiến thức. Đó là dấu hiệu của một “điểm nghẽn” khi học sinh chưa đi hết hành trình của bài học.
Thực tế ghi nhận trong các báo cáo chuyên đề từ 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (Sở GD&ĐT Đắk Lắk) cũng chỉ rõ, nhiều học sinh đã tích cực tham gia hoạt động học tập, nhưng kỹ năng trình bày, phân tích, vận dụng kiến thức còn hạn chế. “Nói cách khác, các em biết nhưng chưa thể hiện được một cách đầy đủ”, ông Trần Hải Đường - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Trãi đánh giá.
Bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT


Giáo viên “loay hoay” chuyển đổi

Chương trình GDPT 2018 và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT đặt ra yêu cầu chuyển từ đánh giá kiến thức sang năng lực, từ điểm số sang nhận xét quá trình. Tuy nhiên, thực tế triển khai tại các trường vùng khó còn nhiều vướng mắc.
Theo bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13, một số giáo viên vẫn quen với cách kiểm tra truyền thống. Hình thức đánh giá chưa đa dạng. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực còn lúng túng. Hoạt động tự đánh giá của học sinh chưa hiệu quả.
Qua trao đổi, không ít thầy cô thừa nhận, việc thiết kế bảng kiểm, rubric (bảng tiêu chí đánh giá) hay theo dõi tiến bộ của từng học sinh trong lớp có sĩ số cao là áp lực không nhỏ. “Muốn đánh giá đúng năng lực học sinh phải quan sát quá trình, nhưng lớp đông, thời gian hạn chế, khó để làm trọn vẹn”, một giáo viên chia sẻ bên lề buổi sinh hoạt cụm.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi được lãnh đạo các trường thuộc Cụm 13 chỉ ra, đặc thù của học sinh miền núi, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, nhiều em nói tiếng mẹ đẻ từ nhỏ, tiếp xúc với tiếng Việt muộn. Điều này dẫn đến thiếu tự tin khi giao tiếp, hoạt động nhóm ở trường, lớp.
Trong khi đó, điều kiện dạy học ở đây dù được quan tâm, đầu tư nhưng vẫn hạn chế, thiếu học liệu trực quan, thiết bị hỗ trợ dạy học, một bộ phận giáo viên ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Đáng chú ý, một bộ phận phụ huynh quen với việc đánh giá bằng điểm số, chưa thực sự hiểu và đồng hành với đánh giá bằng nhận xét.
Những yếu tố này tạo thành “lực cản” vô hình, khiến việc tiếp cận bài học của học sinh chưa đạt như kỳ vọng.
Đội ngũ cán bộ, quản lý, giáo viên cốt cán thuộc 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT


Nhìn thẳng để “gỡ khó”

Dẫu đóng chân ở địa bàn còn nhiều khó khăn, lãnh đạo các trường học thuộc Cụm 13 thẳng thắn nhìn nhận, việc duy trì trao đổi chuyên môn và sinh hoạt Cụm không chỉ đơn thuần là dịp báo cáo chuyên đề, mà còn trở thành diễn đàn thực chất để giáo viên chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong thực tế giảng dạy, từ đó cùng tìm hướng tháo gỡ.
Thực tế cho thấy, các bài dạy minh họa, tiết dạy chuyên đề hiện nay không còn dừng ở mức độ lý thuyết hay mang tính “biểu diễn”, mà đã đi sâu vào từng tình huống cụ thể trong lớp học, phản ánh rõ biểu hiện, năng lực và mức độ tiếp thu khác nhau của học sinh. Điều này giúp việc sinh hoạt chuyên môn sát với thực tiễn hơn, thay vì chỉ dừng ở trao đổi hình thức.
Là một trong những giáo viên cốt cán của trường và ngành, cô H’ Chia Niê - Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng (xã Krông Pắc) cho rằng “học liệu số” đang mở ra một hướng tiếp cận mới, giúp giáo viên có thêm công cụ trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tại địa bàn còn nhiều hạn chế về điều kiện.
Theo cô, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong soạn giảng và xây dựng kho học liệu số không chỉ giúp giảm áp lực chuẩn bị bài giảng mà còn tạo điều kiện để giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
“Qua đó, giáo viên có thể điều chỉnh bài dạy sát hơn với thực tiễn từng trường, từng lớp, từng nhóm học sinh, góp phần phát huy tối đa phẩm chất và năng lực người học”, cô H’ Chia trao đổi.
Theo lãnh đạo Phòng Giáo dục Phổ thông, Sở GD&ĐT Đắk Lắk, việc nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” trong thực tiễn dạy học không nhằm mục đích chỉ ra hạn chế, mà quan trọng hơn là để cùng nhau tìm giải pháp tháo gỡ, cải thiện chất lượng giáo dục.
Từ những “khoảng lặng” trong lớp học, các vấn đề thực tiễn dạy học dần được nhận diện rõ hơn thông qua trao đổi, góp ý tại sinh hoạt Cụm chuyên môn. Đây cũng chính là tiền đề và động lực để đội ngũ giáo viên vùng khó từng bước thay đổi phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá, qua đó giúp học sinh tiếp cận bài học hiệu quả hơn, sát với năng lực thực tế của mình.
Những “điểm nghẽn” trong tiếp cận bài học: Rào cản ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số; hạn chế kỹ năng diễn đạt, trình bày; giáo viên lúng túng trong đổi mới đánh giá; thiếu học liệu, thiết bị dạy học; phụ huynh chưa quen với cách đánh giá mới.

Giờ học của cô và trò Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (xã Ea Phê). Ảnh: TT


Điểm nghẽn từ lớp học vùng khó

Trong tiết học Khoa học lớp 5 tại Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Vụ Bổn, Đắk Lắk), khi giáo viên yêu cầu học sinh quan sát hình ảnh vòng tuần hoàn nước và giải thích hiện tượng, cả lớp chững lại vài giây.
Một cánh tay giơ lên. Câu trả lời ngắn: “Có mưa… nước bay lên ạ”.
Là “chủ nhân” của tiết dạy trên, thay vì nhận xét ngay cho câu trả lời ấy, cô giáo Hồ Thị Mai Thương hỏi tiếp: “Vì sao nước bay lên?”.
Lúc này, hầu hết học sinh lớp 5 của cô cúi xuống trong im lặng. “Các em hiểu, nhưng không nói được”, cô Thương chia sẻ sau giờ dạy và cho rằng, học sinh ở đây phần lớn là người dân tộc thiểu số, điều kiện sống còn khó khăn. Dù tiếp nhận kiến thức khá nhanh qua quan sát, nhưng khi chuyển sang diễn đạt bằng tiếng Việt, nhất là ngôn ngữ mang tính khái quát lại lúng túng.
Tương tự, ở môn Tiếng Việt, cô Nguyễn Hồng Huế - giáo viên Trường Tiểu học Phan Đình Phùng (xã Ea Kly) nhận thấy, nhiều học sinh còn hạn chế về phát âm, vốn từ và khả năng diễn đạt.
“Học sinh ngại nói vì sợ sai. Càng ít nói, càng ít cơ hội sửa. Vòng lặp này khiến việc tiếp cận bài học bị chậm lại”, cô Huế nhận định.
Trong khi đó, ở môn Toán, cô Phạm Thị Hiền - Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (xã Ea Phê), lại nhìn vấn đề từ góc khác. “Nếu chỉ nhìn vào đáp số đúng hay sai thì rất nhanh. Nhưng nếu muốn biết học sinh nghĩ gì, làm thế nào để ra kết quả đó, cần thời gian và cách đánh giá khác”, cô Hiền chia sẻ.
Theo cô, nhiều học sinh có thể làm đúng bài, nhưng chưa chắc đã hiểu bản chất. Ngược lại, có em làm sai nhưng cách tư duy lại đúng hướng. “Điểm chung ở đây là việc tiếp cận bài học không chỉ là hiểu kiến thức, mà còn hiểu và thể hiện được quá trình học”, cô Hiền nói thêm.
Có thể thấy, khoảng lặng trong những lớp học ấy không phải là thiếu kiến thức. Đó là dấu hiệu của một “điểm nghẽn” khi học sinh chưa đi hết hành trình của bài học.
Thực tế ghi nhận trong các báo cáo chuyên đề từ 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (Sở GD&ĐT Đắk Lắk) cũng chỉ rõ, nhiều học sinh đã tích cực tham gia hoạt động học tập, nhưng kỹ năng trình bày, phân tích, vận dụng kiến thức còn hạn chế. “Nói cách khác, các em biết nhưng chưa thể hiện được một cách đầy đủ”, ông Trần Hải Đường - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nguyễn Trãi đánh giá.
Bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT


Giáo viên “loay hoay” chuyển đổi

Chương trình GDPT 2018 và Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT đặt ra yêu cầu chuyển từ đánh giá kiến thức sang năng lực, từ điểm số sang nhận xét quá trình. Tuy nhiên, thực tế triển khai tại các trường vùng khó còn nhiều vướng mắc.
Theo bà Lê Thị Việt - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng, Cụm trưởng Cụm chuyên môn số 13, một số giáo viên vẫn quen với cách kiểm tra truyền thống. Hình thức đánh giá chưa đa dạng. Việc xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực còn lúng túng. Hoạt động tự đánh giá của học sinh chưa hiệu quả.
Qua trao đổi, không ít thầy cô thừa nhận, việc thiết kế bảng kiểm, rubric (bảng tiêu chí đánh giá) hay theo dõi tiến bộ của từng học sinh trong lớp có sĩ số cao là áp lực không nhỏ. “Muốn đánh giá đúng năng lực học sinh phải quan sát quá trình, nhưng lớp đông, thời gian hạn chế, khó để làm trọn vẹn”, một giáo viên chia sẻ bên lề buổi sinh hoạt cụm.
Một trong những nguyên nhân cốt lõi được lãnh đạo các trường thuộc Cụm 13 chỉ ra, đặc thù của học sinh miền núi, nhất là học sinh dân tộc thiểu số, nhiều em nói tiếng mẹ đẻ từ nhỏ, tiếp xúc với tiếng Việt muộn. Điều này dẫn đến thiếu tự tin khi giao tiếp, hoạt động nhóm ở trường, lớp.
Trong khi đó, điều kiện dạy học ở đây dù được quan tâm, đầu tư nhưng vẫn hạn chế, thiếu học liệu trực quan, thiết bị hỗ trợ dạy học, một bộ phận giáo viên ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Đáng chú ý, một bộ phận phụ huynh quen với việc đánh giá bằng điểm số, chưa thực sự hiểu và đồng hành với đánh giá bằng nhận xét.
Những yếu tố này tạo thành “lực cản” vô hình, khiến việc tiếp cận bài học của học sinh chưa đạt như kỳ vọng.
Đội ngũ cán bộ, quản lý, giáo viên cốt cán thuộc 35 trường tiểu học thuộc Cụm chuyên môn số 13 (sở GD&ĐT) trao đổi chuyên đề đổi mới dạy học. Ảnh: TT


Nhìn thẳng để “gỡ khó”

Dẫu đóng chân ở địa bàn còn nhiều khó khăn, lãnh đạo các trường học thuộc Cụm 13 thẳng thắn nhìn nhận, việc duy trì trao đổi chuyên môn và sinh hoạt Cụm không chỉ đơn thuần là dịp báo cáo chuyên đề, mà còn trở thành diễn đàn thực chất để giáo viên chia sẻ những vướng mắc, khó khăn trong thực tế giảng dạy, từ đó cùng tìm hướng tháo gỡ.
Thực tế cho thấy, các bài dạy minh họa, tiết dạy chuyên đề hiện nay không còn dừng ở mức độ lý thuyết hay mang tính “biểu diễn”, mà đã đi sâu vào từng tình huống cụ thể trong lớp học, phản ánh rõ biểu hiện, năng lực và mức độ tiếp thu khác nhau của học sinh. Điều này giúp việc sinh hoạt chuyên môn sát với thực tiễn hơn, thay vì chỉ dừng ở trao đổi hình thức.
Là một trong những giáo viên cốt cán của trường và ngành, cô H’ Chia Niê - Trường Tiểu học Nơ Trang Lơng (xã Krông Pắc) cho rằng “học liệu số” đang mở ra một hướng tiếp cận mới, giúp giáo viên có thêm công cụ trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tại địa bàn còn nhiều hạn chế về điều kiện.
Theo cô, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong soạn giảng và xây dựng kho học liệu số không chỉ giúp giảm áp lực chuẩn bị bài giảng mà còn tạo điều kiện để giáo viên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong tổ chức dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh.
“Qua đó, giáo viên có thể điều chỉnh bài dạy sát hơn với thực tiễn từng trường, từng lớp, từng nhóm học sinh, góp phần phát huy tối đa phẩm chất và năng lực người học”, cô H’ Chia trao đổi.
Theo lãnh đạo Phòng Giáo dục Phổ thông, Sở GD&ĐT Đắk Lắk, việc nhìn thẳng vào những “điểm nghẽn” trong thực tiễn dạy học không nhằm mục đích chỉ ra hạn chế, mà quan trọng hơn là để cùng nhau tìm giải pháp tháo gỡ, cải thiện chất lượng giáo dục.
Từ những “khoảng lặng” trong lớp học, các vấn đề thực tiễn dạy học dần được nhận diện rõ hơn thông qua trao đổi, góp ý tại sinh hoạt Cụm chuyên môn. Đây cũng chính là tiền đề và động lực để đội ngũ giáo viên vùng khó từng bước thay đổi phương pháp dạy học, đổi mới cách đánh giá, qua đó giúp học sinh tiếp cận bài học hiệu quả hơn, sát với năng lực thực tế của mình.
Những “điểm nghẽn” trong tiếp cận bài học: Rào cản ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số; hạn chế kỹ năng diễn đạt, trình bày; giáo viên lúng túng trong đổi mới đánh giá; thiếu học liệu, thiết bị dạy học; phụ huynh chưa quen với cách đánh giá mới.

Chia sẻ
khả năng tiếp cận bài học của học sinh miền núitháo điểm nghẽn từ thực tiễnkhả năng tiếp cận bài họchọc sinh miền núinhững cách làm linh hoạtđiểm nghẽn từ lớp học vùng khógiáo viên loay hoay chuyển đổi
Theo Thành Tâm
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/03/23 07:30 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Bước đột phá trong tư duy đào tạo nhân lực vùng cao
Trao đổi - kết nối

Bước đột phá trong tư duy đào tạo nhân lực vùng cao

Nâng cao năng lực chuyển đổi số trong lĩnh vực bưu chính, đo lường
Trao đổi - kết nối

Nâng cao năng lực chuyển đổi số trong lĩnh vực bưu chính, đo lường

Bổ nhiệm lại và truy lĩnh tiền lương nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà giáo
Trao đổi - kết nối

Bổ nhiệm lại và truy lĩnh tiền lương nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà giáo

Nâng cao năng lực hỗ trợ học sinh khuyết tật học hòa nhập
Trao đổi - kết nối

Nâng cao năng lực hỗ trợ học sinh khuyết tật học hòa nhập

Hơn 150 chuyên gia bàn về tương lai dạy và học tiếng Anh trong kỷ nguyên AI
Trao đổi - kết nối

Hơn 150 chuyên gia bàn về tương lai dạy và học tiếng Anh trong kỷ nguyên AI

Bữa ăn bán trú cần đặt an toàn và đủ dinh dưỡng lên hàng đầu
Trao đổi - kết nối

Bữa ăn bán trú cần đặt an toàn và đủ dinh dưỡng lên hàng đầu

Mới nhất

2026-08-11 16:26

Hàng loạt ngành của Trường Đại học Sư phạm TPHCM lấy điểm chuẩn trên 29

GD&TĐ - Theo phương thức xét tuyển sử dụng kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, ngành Sư phạm Hóa học dẫn đầu với điểm chuẩn 29,83 điểm

Hàng loạt ngành của Trường Đại học Sư phạm TPHCM lấy điểm chuẩn trên 29
2026-08-11 16:25

TP Huế giảm 246 trường công lập, hình thành nhiều trường liên cấp

GD&TĐ - Ngày 11/8, UBND TP Huế cho biết vừa chính thức phê duyệt phương án sắp xếp lại các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập trên địa bàn.

TP Huế giảm 246 trường công lập, hình thành nhiều trường liên cấp
2026-08-11 16:25

Bà Đồng Thị Bạch Tuyết tái đắc cử Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Đồng Tháp

GD&TĐ - Ngày 11/8, Hội Khuyến học tỉnh Đồng Tháp tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Bà Đồng Thị Bạch Tuyết tái đắc cử Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Đồng Tháp
2026-08-11 16:23

Học sinh Gia Lai tựu trường năm học mới 2026-2027

GD&TĐ - Theo kế hoạch, học sinh Gia Lai tựu trường ngày 31/8, riêng lớp 1, 9, 12 tựu trường từ ngày 24/8 và lễ khai giảng tổ chức vào ngày 5/9.

Học sinh Gia Lai tựu trường năm học mới 2026-2027
2026-08-11 16:19

Đà Nẵng đẩy nhanh xây trường học bằng nguồn lực xã hội hóa

GD&TĐ - Đà Nẵng dự kiến triển khai các công trình trường học bằng nguồn lực xã hội hóa tại phường Liên Chiểu, khu vực Điện Bàn và phường Hòa Khánh.

Đà Nẵng đẩy nhanh xây trường học bằng nguồn lực xã hội hóa
2026-08-11 16:18

Học sinh Việt Nam đạt thành tích xuất sắc tại Olympic khoa học quốc tế NEO 2026

GD&TĐ - Đoàn học sinh Việt Nam đạt thành tích xuất sắc tại vòng chung kết cuộc thi Olympic khoa học quốc tế NEO năm 2026 được tổ chức tại New York, Hoa Kỳ.

Học sinh Việt Nam đạt thành tích xuất sắc tại Olympic khoa học quốc tế NEO 2026
2026-08-11 16:18

Thanh Hoá đặt mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học

GD&TĐ - Thanh Hóa đặt mục tiêu đến năm 2045, tiếng Anh trở thành công cụ giao tiếp thường xuyên, hiệu quả trong dạy học, quản lý và hoạt động giáo dục.

Thanh Hoá đặt mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học
2026-08-11 16:18

Ninh Bình sẽ kiểm tra đột xuất việc sắp xếp các cơ sở giáo dục

GD&TĐ - Các hành vi làm sai lệch hồ sơ nhân sự, can thiệp không đúng quy định, trục lợi hoặc cố tình làm chậm tiến độ sẽ bị xử lý nghiêm.

Ninh Bình sẽ kiểm tra đột xuất việc sắp xếp các cơ sở giáo dục
2026-08-11 16:18

Ninh Bình đưa ra tiêu chí chấm điểm hiệu trưởng sau sắp xếp trường học

GD&TĐ - Việc lựa chọn hiệu trưởng trường học sau sắp xếp tại Ninh Bình được thực hiện theo 22 tiêu chí thành phần, với tổng điểm tối đa 100.

Ninh Bình đưa ra tiêu chí chấm điểm hiệu trưởng sau sắp xếp trường học
2026-08-11 16:17

Quảng Trị tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả

GD&TĐ - Quảng Trị triển khai sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả, gắn với sử dụng tốt nguồn lực về đội ngũ, cơ sở vật chất.

Quảng Trị tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục theo hướng tinh gọn, hiệu quả