Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
  • Trang chủ
  • Giáo dục - Học đường
  • Giáo dục thể chất
  • Giáo dục kỹ năng
  • Trao đổi - kết nối
  • Học tập ngoại khoá
  • Văn hóa
  • Nhịp điệu cuộc sống
  • Đa phương tiện
Trang điện tử Cầu Vồng Tuổi Thơ

Trang thông tin điện tử tổng hợp Cầu Vồng Tuổi Thơ

Giấy phép thiết lập Trang thông tin điện tử tổng hợp Số 176/GP-STTTT do Sở thông tin & Truyền thông Thành phố Hà Nội cấp ngày 2/12/2024

Công ty Cổ phần Truyền thông và Giáo dục Cầu Vồng

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0108503753 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 08/11/2018

Email: [email protected]

Địa chỉ: TT28-29, Honor Village, Số 204 Đường Nguyễn Tuân, Thanh Xuân, Hà Nội

Phụ trách nội dung

Phạm Thị Thu Thảo

Chức danh: Trưởng nhóm nội dung điện tử

Điện thoại: 0904255215

Email: [email protected]

Liên hệ

0904255215

Bản quyền thuộc về Cầu Vồng EDM

Những rào cản kìm hãm chuyển giao kết quả nghiên cứu từ đại học

2026/07/21 14:52

GD&TĐ - Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng vẫn là bài toán lớn của các trường đại học, đòi hỏi đổi mới cơ chế và hệ sinh thái chuyển giao.


Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các trường đại học đóng vai trò trung tâm trong việc tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, một thách thức dai dẳng và phức tạp, vẫn tồn tại từ nhiều năm qua là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu khoa học được tạo ra trong môi trường học thuật và khả năng ứng dụng chúng vào thực tiễn xã hội, kinh tế.
Theo TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, về mặt lý luận, hiện tượng này, thường được gọi là "khoảng cách nghiên cứu-thực tiễn" hoặc vấn đề "chuyển giao tri thức", không chỉ làm giảm giá trị tiềm năng của các công trình nghiên cứu, gây ra rất nhiều hệ lụy lãng phí, mà còn cản trở sự phát triển bền vững của cộng đồng và quốc gia.
Một số nhận định được TS Tôn Quang Cường đưa ra, vừa đánh giá hiện trạng, đồng thời là định hướng giải quyết khắc phục tình trạng này trong giai đoạn mới như sau:

Hệ thống khuyến khích học thuật, định hướng nghiên cứu chưa thực sự phù hợp

Một trong những rào cản cơ bản nhất, theo TS Tôn Quang Cường, nằm ở chính hệ thống khuyến khích và đánh giá trong môi trường học thuật. Các trường đại học đang hoạt động theo mô hình truyền thống hiện nay thường ưu tiên các chỉ số định lượng như số lượng bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (đặc biệt là các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao), số lượng trích dẫn và các dự án nghiên cứu cơ bản.
Mặc dù những chỉ số này quan trọng cho việc thúc đẩy kiến tạo tri thức nền tảng, thậm chí đóng vai trò quan trọng trong xếp hạng đại học, nhưng chúng lại ít hoặc không phản ánh được giá trị ứng dụng, tác động xã hội, hoặc tiềm năng thương mại hóa của nghiên cứu.
Điều này tạo ra một áp lực lớn lên các nhà khoa học, buộc họ phải tập trung vào các nghiên cứu quá hàn lâm, dễ công bố hơn là các nghiên cứu có tính ứng dụng cao nhưng đòi hỏi thời gian dài hơn để chứng minh hiệu quả và tác động.
Hệ quả là, nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về mặt lý thuyết lại thiếu đi sự kết nối cần thiết với nhu cầu thực tiễn, dẫn đến việc chúng chỉ tồn tại trong các "kho tàng hàn lâm", thư viện khoa học mà không thể vượt ra ngoài giới hạn học thuật.

Rào cản về cấu trúc và văn hóa nội bộ trong các cơ sở giáo dục đại học

Các cấu trúc tổ chức và văn hóa học thuật hiện tại đã bắt đầu lộ ra những điểm bất cập trong nhiều nhà trường đại học.
Làm rõ nhận định này, TS Tôn Quang Cường cho biết, các khoa, bộ môn thường hoạt động độc lập, tạo ra các "phân khu" tri thức, hạn chế sự hợp tác liên ngành và đa ngành.
Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ thường đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng như sự linh hoạt trong quy trình.
Tuy nhiên, các quy trình hành chính phức tạp, sự thiếu vắng các cơ chế hỗ trợ liên ngành hiệu quả, văn hóa đề cao tính cá nhân trong nghiên cứu đã cản trở đáng kể các nỗ lực này.
Ngoài ra, sự thiếu hụt các chuyên gia có kỹ năng "phiên dịch" ngôn ngữ học thuật và ngôn ngữ "chuyển giao" cũng là một yếu tố quan trọng.
Các nhà khoa học thường được đào tạo để giao tiếp với đồng nghiệp trong cùng lĩnh vực, nhưng lại ít được trang bị kỹ năng để truyền đạt giá trị nghiên cứu của mình cho các đối tượng phi học thuật (ngoài chuyên môn), làm giảm khả năng tiếp cận và ứng dụng của các bên liên quan.

Thiếu hụt cơ chế chuyển giao tri thức và thương mại hóa hiệu quả

Việc thiếu vắng các cơ chế, hạ tầng hỗ trợ chuyển giao tri thức và thương mại hóa là một rào cản đáng kể khác.
TS Tôn Quang Cường cho biết, nhiều trường đại học chưa đầu tư đủ vào các văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Offices - TTOs) hoặc các trung tâm đổi mới sáng tạo có đủ năng lực và nguồn lực.
Các TTOs hiệu quả cần có đội ngũ chuyên gia pháp lý, kinh doanh, marketing, đàm phán… để đánh giá tiềm năng thương mại của nghiên cứu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng. Hoặc rộng hơn nữa là việc kiến tạo môi trường "kinh doanh học thuật".
Trong phần lớn các trường hợp thực tế, các TTOs hoạt động còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm hoặc không đủ nhân lực để xử lý khối lượng công việc và sự phức tạp của quá trình chuyển giao.
Học hỏi kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, quy trình cấp bằng sáng chế và thương mại hóa thường tốn kém, mất thời gian, thách thức kiên nhẫn của nhiều nhà nghiên cứu và trường đại học. Những rào cản này cũng này dẫn đến việc nhiều phát minh tiềm năng bị bỏ lỡ hoặc không được khai thác triệt để.
TS Tôn Quang Cường.


Hạn chế trong việc gắn kết với các bên liên quan bên ngoài

Sự thiếu hụt gắn kết và tương tác chủ động với các bên liên quan bên ngoài như doanh nghiệp, chính phủ, cộng đồng dẫn tới việc nghiên cứu được thực hiện mà không có sự tham vấn hoặc hợp tác chặt chẽ với những đối tượng sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu.
Điều này tạo ra một hệ lụy là các vấn đề nghiên cứu được xác định dựa trên mối quan tâm học thuật thuần túy, thay vì xuất phát từ các nhu cầu cấp thiết của xã hội hoặc thị trường.
TS Tôn Quang Cường cho rằng, khi không có sự tham gia của các bên liên quan từ giai đoạn đầu, nghiên cứu có thể trở nên không phù hợp, không thực tế hoặc khó tích hợp vào các quy trình hiện có.
"Học giả gắn kết" (engaged scholarship) là một phương pháp tiếp cận nhằm thu hẹp khoảng cách này bằng cách thúc đẩy sự hợp tác song phương, đa phương, đa chiều và toàn diện.
Cốt lõi của cấu trúc tiếp cận này nằm ở chỗ tăng cường, thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu với các bên liên quan để cùng xác định vấn đề, thiết kế nghiên cứu và chia sẻ kết quả, lợi ích. Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi mô hình này vẫn còn gặp nhiều trở ngại về mặt thể chế và văn hóa.

Mô hình tài trợ nghiên cứu và tâm lý e ngại rủi ro

Mô hình tài trợ nghiên cứu hiện hành và tâm lý ngại rủi ro, theo TS Tôn Quang Cường, cũng là một yếu tố cản trở nhất là trong trường hợp có nguồn tài trợ lớn, các dự án nghiên cứu cơ bản, mang tính đột phá về mặt khoa học với kỳ vọng tạo ra những khám phá mới.
Thực tế cho thấy, cả nhà nghiên cứu lẫn các tổ chức tài trợ đều có xu hướng ngại rủi ro khi đầu tư vào các ý tưởng mới chưa được kiểm chứng, đặc biệt là khi kết quả không đảm bảo thành công ngay lập tức, cần thời gian dài để thu hồi vốn…
Sự thiếu vắng các quỹ "mạo hiểm" (venture capital) hoặc các thiết chế tài trợ chuyên biệt cho giai đoạn "thung lũng chết" (valley of death) - khoảng thời gian khó khăn giữa nghiên cứu cơ bản và thương mại hóa - đã làm chậm trễ hoặc ngăn cản nhiều ý tưởng tiềm năng trở thành hiện thực.
Điều này đặc biệt đúng trong các lĩnh vực công nghệ cao có chu kỳ đổi mới diễn ra nhanh chóng và yêu cầu đầu tư lớn.
Hoạt động thực hành tại Trường Đại học Thành Đô.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các trường đại học đóng vai trò trung tâm trong việc tạo ra tri thức mới. Tuy nhiên, một thách thức dai dẳng và phức tạp, vẫn tồn tại từ nhiều năm qua là khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu khoa học được tạo ra trong môi trường học thuật và khả năng ứng dụng chúng vào thực tiễn xã hội, kinh tế.
Theo TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, về mặt lý luận, hiện tượng này, thường được gọi là "khoảng cách nghiên cứu-thực tiễn" hoặc vấn đề "chuyển giao tri thức", không chỉ làm giảm giá trị tiềm năng của các công trình nghiên cứu, gây ra rất nhiều hệ lụy lãng phí, mà còn cản trở sự phát triển bền vững của cộng đồng và quốc gia.
Một số nhận định được TS Tôn Quang Cường đưa ra, vừa đánh giá hiện trạng, đồng thời là định hướng giải quyết khắc phục tình trạng này trong giai đoạn mới như sau:

Hệ thống khuyến khích học thuật, định hướng nghiên cứu chưa thực sự phù hợp

Một trong những rào cản cơ bản nhất, theo TS Tôn Quang Cường, nằm ở chính hệ thống khuyến khích và đánh giá trong môi trường học thuật. Các trường đại học đang hoạt động theo mô hình truyền thống hiện nay thường ưu tiên các chỉ số định lượng như số lượng bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín (đặc biệt là các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao), số lượng trích dẫn và các dự án nghiên cứu cơ bản.
Mặc dù những chỉ số này quan trọng cho việc thúc đẩy kiến tạo tri thức nền tảng, thậm chí đóng vai trò quan trọng trong xếp hạng đại học, nhưng chúng lại ít hoặc không phản ánh được giá trị ứng dụng, tác động xã hội, hoặc tiềm năng thương mại hóa của nghiên cứu.
Điều này tạo ra một áp lực lớn lên các nhà khoa học, buộc họ phải tập trung vào các nghiên cứu quá hàn lâm, dễ công bố hơn là các nghiên cứu có tính ứng dụng cao nhưng đòi hỏi thời gian dài hơn để chứng minh hiệu quả và tác động.
Hệ quả là, nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc về mặt lý thuyết lại thiếu đi sự kết nối cần thiết với nhu cầu thực tiễn, dẫn đến việc chúng chỉ tồn tại trong các "kho tàng hàn lâm", thư viện khoa học mà không thể vượt ra ngoài giới hạn học thuật.

Rào cản về cấu trúc và văn hóa nội bộ trong các cơ sở giáo dục đại học

Các cấu trúc tổ chức và văn hóa học thuật hiện tại đã bắt đầu lộ ra những điểm bất cập trong nhiều nhà trường đại học.
Làm rõ nhận định này, TS Tôn Quang Cường cho biết, các khoa, bộ môn thường hoạt động độc lập, tạo ra các "phân khu" tri thức, hạn chế sự hợp tác liên ngành và đa ngành.
Nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ thường đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau, cũng như sự linh hoạt trong quy trình.
Tuy nhiên, các quy trình hành chính phức tạp, sự thiếu vắng các cơ chế hỗ trợ liên ngành hiệu quả, văn hóa đề cao tính cá nhân trong nghiên cứu đã cản trở đáng kể các nỗ lực này.
Ngoài ra, sự thiếu hụt các chuyên gia có kỹ năng "phiên dịch" ngôn ngữ học thuật và ngôn ngữ "chuyển giao" cũng là một yếu tố quan trọng.
Các nhà khoa học thường được đào tạo để giao tiếp với đồng nghiệp trong cùng lĩnh vực, nhưng lại ít được trang bị kỹ năng để truyền đạt giá trị nghiên cứu của mình cho các đối tượng phi học thuật (ngoài chuyên môn), làm giảm khả năng tiếp cận và ứng dụng của các bên liên quan.

Thiếu hụt cơ chế chuyển giao tri thức và thương mại hóa hiệu quả

Việc thiếu vắng các cơ chế, hạ tầng hỗ trợ chuyển giao tri thức và thương mại hóa là một rào cản đáng kể khác.
TS Tôn Quang Cường cho biết, nhiều trường đại học chưa đầu tư đủ vào các văn phòng chuyển giao công nghệ (Technology Transfer Offices - TTOs) hoặc các trung tâm đổi mới sáng tạo có đủ năng lực và nguồn lực.
Các TTOs hiệu quả cần có đội ngũ chuyên gia pháp lý, kinh doanh, marketing, đàm phán… để đánh giá tiềm năng thương mại của nghiên cứu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng. Hoặc rộng hơn nữa là việc kiến tạo môi trường "kinh doanh học thuật".
Trong phần lớn các trường hợp thực tế, các TTOs hoạt động còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm hoặc không đủ nhân lực để xử lý khối lượng công việc và sự phức tạp của quá trình chuyển giao.
Học hỏi kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, quy trình cấp bằng sáng chế và thương mại hóa thường tốn kém, mất thời gian, thách thức kiên nhẫn của nhiều nhà nghiên cứu và trường đại học. Những rào cản này cũng này dẫn đến việc nhiều phát minh tiềm năng bị bỏ lỡ hoặc không được khai thác triệt để.
TS Tôn Quang Cường.


Hạn chế trong việc gắn kết với các bên liên quan bên ngoài

Sự thiếu hụt gắn kết và tương tác chủ động với các bên liên quan bên ngoài như doanh nghiệp, chính phủ, cộng đồng dẫn tới việc nghiên cứu được thực hiện mà không có sự tham vấn hoặc hợp tác chặt chẽ với những đối tượng sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu.
Điều này tạo ra một hệ lụy là các vấn đề nghiên cứu được xác định dựa trên mối quan tâm học thuật thuần túy, thay vì xuất phát từ các nhu cầu cấp thiết của xã hội hoặc thị trường.
TS Tôn Quang Cường cho rằng, khi không có sự tham gia của các bên liên quan từ giai đoạn đầu, nghiên cứu có thể trở nên không phù hợp, không thực tế hoặc khó tích hợp vào các quy trình hiện có.
"Học giả gắn kết" (engaged scholarship) là một phương pháp tiếp cận nhằm thu hẹp khoảng cách này bằng cách thúc đẩy sự hợp tác song phương, đa phương, đa chiều và toàn diện.
Cốt lõi của cấu trúc tiếp cận này nằm ở chỗ tăng cường, thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu với các bên liên quan để cùng xác định vấn đề, thiết kế nghiên cứu và chia sẻ kết quả, lợi ích. Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi mô hình này vẫn còn gặp nhiều trở ngại về mặt thể chế và văn hóa.

Mô hình tài trợ nghiên cứu và tâm lý e ngại rủi ro

Mô hình tài trợ nghiên cứu hiện hành và tâm lý ngại rủi ro, theo TS Tôn Quang Cường, cũng là một yếu tố cản trở nhất là trong trường hợp có nguồn tài trợ lớn, các dự án nghiên cứu cơ bản, mang tính đột phá về mặt khoa học với kỳ vọng tạo ra những khám phá mới.
Thực tế cho thấy, cả nhà nghiên cứu lẫn các tổ chức tài trợ đều có xu hướng ngại rủi ro khi đầu tư vào các ý tưởng mới chưa được kiểm chứng, đặc biệt là khi kết quả không đảm bảo thành công ngay lập tức, cần thời gian dài để thu hồi vốn…
Sự thiếu vắng các quỹ "mạo hiểm" (venture capital) hoặc các thiết chế tài trợ chuyên biệt cho giai đoạn "thung lũng chết" (valley of death) - khoảng thời gian khó khăn giữa nghiên cứu cơ bản và thương mại hóa - đã làm chậm trễ hoặc ngăn cản nhiều ý tưởng tiềm năng trở thành hiện thực.
Điều này đặc biệt đúng trong các lĩnh vực công nghệ cao có chu kỳ đổi mới diễn ra nhanh chóng và yêu cầu đầu tư lớn.
Chia sẻ
Những rào cản chuyển giao kết quả nghiên cứuhạn chế trong nghiên cứu khoa học ở đại học
Theo Hiếu Nguyễn
giaoducthoidai.vn
Theo: giaoducthoidai.vn
2026/07/16 16:21 (GMT+7)

Xem thêm Trao đổi - kết nối

Rèn bản lĩnh, nuôi dưỡng ý thức công dân từ trải nghiệm thực tiễn
Trao đổi - kết nối

Rèn bản lĩnh, nuôi dưỡng ý thức công dân từ trải nghiệm thực tiễn

Thiết lập ranh giới giữa các hoạt động giáo dục trong nhà trường
Trao đổi - kết nối

Thiết lập ranh giới giữa các hoạt động giáo dục trong nhà trường

UKA Gia Lai – 5 năm vun đắp những giá trị bền vững giữa đại ngàn
Trao đổi - kết nối

UKA Gia Lai – 5 năm vun đắp những giá trị bền vững giữa đại ngàn

Nghệ An tinh gọn mạng lưới trường học vẫn giữ vững cơ hội học tập
Trao đổi - kết nối

Nghệ An tinh gọn mạng lưới trường học vẫn giữ vững cơ hội học tập

Dự thảo Điều lệ Ban Đại diện Cha mẹ học sinh hướng tới minh bạch hơn
Trao đổi - kết nối

Dự thảo Điều lệ Ban Đại diện Cha mẹ học sinh hướng tới minh bạch hơn

Đưa giáo dục nghề nghiệp đến gần người dân
Trao đổi - kết nối

Đưa giáo dục nghề nghiệp đến gần người dân

Mới nhất

2026-07-21 07:52

Những rào cản kìm hãm chuyển giao kết quả nghiên cứu từ đại học

GD&TĐ - Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng vẫn là bài toán lớn của các trường đại học, đòi hỏi đổi mới cơ chế và hệ sinh thái chuyển giao.

Những rào cản kìm hãm chuyển giao kết quả nghiên cứu từ đại học
2026-07-21 07:52

Đánh thức không gian đô thị Hà Nội bằng thiết kế sáng tạo

GD&TĐ - Lần đầu tiên, các ý tưởng thiết kế khả thi cho không gian đô thị Hà Nội được đặt mục tiêu triển khai thực tế.

Đánh thức không gian đô thị Hà Nội bằng thiết kế sáng tạo
2026-07-21 07:52

Ba nghệ sĩ Việt tham gia dự án kết nối nghệ thuật sơn mài Việt-Nhật

GD&TĐ - Ba nghệ sĩ Việt Nam sẽ tới thành phố Wajima (Nhật Bản) để tham gia chương trình nghiên cứu, mở đầu dự án “Con đường sơn mài Việt – Nhật".

Ba nghệ sĩ Việt tham gia dự án kết nối nghệ thuật sơn mài Việt-Nhật
2026-07-21 07:51

Phát huy ‘tài sản chất xám’ sau nghỉ hưu của đội ngũ nhà giáo

GD&TĐ - Việc Thông tư số 59/2026/TT-BGDĐT quy định về nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu đã tháo gỡ ‘điểm nghẽn’ về nhân sự cấp cao.

Phát huy ‘tài sản chất xám’ sau nghỉ hưu của đội ngũ nhà giáo
2026-07-21 07:51

Trường Tiểu học Nguyệt Đức nâng chất lượng từ đổi mới và chuyển đổi số

GD&TĐ - Đổi mới quản trị, phát triển đội ngũ và chuyển đổi số giúp Trường Tiểu học Nguyệt Đức (Phú Thọ) nâng cao chất lượng, tạo nền tảng cho đoạn mới.

Trường Tiểu học Nguyệt Đức nâng chất lượng từ đổi mới và chuyển đổi số
2026-07-21 07:51

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thăm Trường Đại học Tôn Đức Thắng

GD&TĐ - Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thăm Trường ĐH Tôn Đức Thắng và dự khán trận chung kết toàn quốc Giải Bóng đá công nhân, viên chức Việt Nam 2026.

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu thăm Trường Đại học Tôn Đức Thắng
2026-07-21 07:51

Chuột Logitech tích hợp phím tắt AI có thể thay đổi cách dân văn phòng làm việc?

GD&TĐ - Logitech đang đưa trợ lý AI đến gần hơn với thao tác hằng ngày qua phím tắt trên chuột văn phòng cao cấp MX Master 4.

Chuột Logitech tích hợp phím tắt AI có thể thay đổi cách dân văn phòng làm việc?
2026-07-21 07:51

Hải Phòng kiến nghị sớm tuyển dụng bổ sung giáo viên đáp ứng năm học mới

GD&TĐ - Trước tình trạng thiếu giáo viên, cử tri Hải Phòng kiến nghị thành phố sớm bổ sung biên chế phù hợp với nhu cầu thực tế.

Hải Phòng kiến nghị sớm tuyển dụng bổ sung giáo viên đáp ứng năm học mới
2026-07-21 07:50

Kết nối toàn diện với doanh nghiệp, trường CĐ đạt gần 100% sinh viên có việc làm

GD&TĐ - Chiều 20/7, Trường CĐ Việt Mỹ Hà Nội - thành viên Tập đoàn Giáo dục EQuest tổ chức lễ tốt nghiệp hệ cao đẳng cho sinh viên khóa K23.

Kết nối toàn diện với doanh nghiệp, trường CĐ đạt gần 100% sinh viên có việc làm
2026-07-21 07:50

Tiếp nhận và bổ nhiệm PGS.TS Phạm Quốc Thành làm Hiệu trưởng Trường ĐH Thái Bình

GD&TĐ - Sáng 20/7, UBND tỉnh Hưng Yên tổ chức hội nghị công bố quyết định tiếp nhận và bổ nhiệm Hiệu trưởng Trường Đại học Thái Bình.

Tiếp nhận và bổ nhiệm PGS.TS Phạm Quốc Thành làm Hiệu trưởng Trường ĐH Thái Bình