Dữ liệu đại học 'đúng, đủ, sạch, sống': Lợi ích cho nhà trường và người học
2026/10/28 09:30
GD&TĐ - Dữ liệu công khai, minh bạch góp phần quan trọng giúp nâng cao chất lượng quản trị nhà trường, bảo đảm quyền lợi thiết thực cho người học.
Nền tảng dữ liệu đã hình thành, nhưng chưa đồng bộ
Tại Hội nghị Giáo dục đại học diễn ra mới đây tại TPHCM, ông Nguyễn Sơn Hải, Quyền Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT), cho biết 100% cơ sở giáo dục đại học hiện đã sử dụng phần mềm quản lý, quản trị nhà trường.
Dữ liệu được hình thành trong hầu hết hoạt động cốt lõi, từ đào tạo, tuyển sinh, khảo thí, công tác sinh viên đến khoa học và công nghệ, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ người học. Theo ông Hải, đây là nguồn tài nguyên lớn, tạo tiền đề quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học chuyển đổi phương thức quản trị.
Ở cấp hệ thống, Hệ thống cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (HEMIS), được đưa vào sử dụng từ năm 2023, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung cho toàn hệ thống. Đến nay, HEMIS có dữ liệu của 470 cơ sở có đào tạo đại học, gần 200.000 hồ sơ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cùng gần 2,9 triệu hồ sơ học tập của người học đang theo học.
Hệ thống đã góp phần cung cấp bức tranh tương đối toàn diện về quy mô và hoạt động của giáo dục đại học, tạo nền tảng cho đổi mới công tác quản lý nhà nước, thống kê và hoạch định chính sách.
Song song với đó, cơ sở dữ liệu văn bằng số quốc gia đang được hình thành, tập trung vào kết quả đầu ra quan trọng của quá trình đào tạo. Việc số hóa văn bằng được kỳ vọng tạo cơ sở đánh giá hiệu quả phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công tác hoạch định chính sách đào tạo và phát triển nhân lực cho đất nước.
Tuy nhiên, dữ liệu tại nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn còn phân tán, thiếu liên thông; cơ sở dữ liệu tập trung và hồ sơ xuyên suốt của người học, cơ sở đào tạo chưa được hình thành đầy đủ. Dữ liệu văn bằng lịch sử cũng chưa đầy đủ. Đến ngày 29/9/2026, có 5,5 triệu văn bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được số hóa, đạt 64%.
Theo đánh giá của lãnh đạo Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT), dữ liệu hiện có giúp trả lời những câu hỏi về quy mô như có bao nhiêu cơ sở, chương trình đào tạo, sinh viên, giảng viên, nhà khoa học và người tốt nghiệp. Nhưng để đánh giá đầy đủ hiệu quả đào tạo, cần có thêm thông tin về nơi làm việc, mức độ phù hợp giữa công việc và ngành học, tình hình thiếu hoặc thừa nhân lực ở từng lĩnh vực, sự dịch chuyển lao động giữa các vùng cũng như hiệu quả đầu tư cho đào tạo.
Vì vậy, dữ liệu hiện vẫn chủ yếu phục vụ thống kê, báo cáo và quản lý hành chính, chưa được khai thác đầy đủ cho hoạt động quản trị và hoạch định chính sách. Điểm nghẽn không chỉ là thiếu dữ liệu, mà còn nằm ở chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối, khai thác dữ liệu.
Tân sinh viên khóa 2026 Trường Đại học Thủ Dầu Một (TPHCM) làm thủ tục nhập học. Ảnh: TDMU.
Minh bạch thông tin, nâng cao hiệu quả quản trị
Theo các chuyên gia tại các trường đại học, hoàn thiện hệ thống dữ liệu và công khai thông tin minh bạch là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng quản trị, góp phần phát triển giáo dục đại học.
ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương TPHCM, cho rằng chuẩn hóa dữ liệu không chỉ là bài toán công nghệ mà còn thể hiện trách nhiệm minh bạch của các trường đối với người học và xã hội. Điều quan trọng không phải trường đại học công khai bao nhiêu số liệu, mà là những con số đó có phản ánh đúng chất lượng đào tạo và giúp người học đưa ra quyết định phù hợp hay không.
Ông Sơn dẫn ví dụ về tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp được nhiều trường công bố ở mức 95%, 99%, thậm chí 100%. Theo ông, cần làm rõ những con số này được xác định trên cơ sở khảo sát bao nhiêu sinh viên, tỷ lệ phản hồi ra sao, bao nhiêu người làm đúng ngành được đào tạo, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp như thế nào. Nếu thiếu những thông tin này, tỷ lệ có việc làm dù cao cũng chưa phản ánh đầy đủ thực tế đầu ra.
Từ góc độ người học, thông tin công khai cần giúp học sinh và phụ huynh có cái nhìn rõ hơn trước khi lựa chọn trường, ngành. Họ cần biết không chỉ mức học phí mỗi học kỳ mà cả chi phí dự kiến toàn khóa; không chỉ tỷ lệ có việc làm mà còn cơ hội nghề nghiệp, thu nhập và khả năng phát triển sau tốt nghiệp.
Ông Sơn cho rằng sinh viên cần có quyền phản ánh, yêu cầu giải thích hoặc điều chỉnh những thông tin chưa chính xác liên quan đến mình. Nhà trường không thể yêu cầu người học chịu trách nhiệm với lựa chọn của họ nếu chưa cung cấp đầy đủ thông tin để họ đưa ra quyết định. Việc kết nối dữ liệu, trong đó có thể nghiên cứu khai thác thông tin qua VNeID, là một hướng có thể xem xét để hỗ trợ xác thực thông tin việc làm của người học.
Theo ông Sơn, yêu cầu minh bạch cần được thực hiện trên nhiều phương diện, từ tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ việc làm đến điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Uy tín của một trường đại học không nằm ở những gì nhà trường tự giới thiệu, mà ở giá trị người học thực sự nhận được sau khi tốt nghiệp.
Không chỉ giúp người học có thêm thông tin để lựa chọn, dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối còn tạo cơ sở để các trường nhìn lại chất lượng đào tạo, điều chỉnh chương trình và nâng cao hiệu quả quản trị.
Theo ông Phạm Thái Sơn, dữ liệu cần giúp nhà trường nhận diện những ngành học có sinh viên khó tìm việc, những chương trình cần điều chỉnh và các kỹ năng doanh nghiệp đang có nhu cầu. Tỷ lệ có việc làm và chất lượng việc làm của sinh viên là những căn cứ quan trọng để cải tiến chương trình đào tạo theo yêu cầu thực tế.
Muốn vậy, dữ liệu phải được kết nối, kiểm chứng và cập nhật thường xuyên, thay vì chỉ phục vụ thống kê, báo cáo. Các trường cần có thông tin đáng tin cậy về người học, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và kết quả đầu ra để phục vụ công tác quản trị.
Sinh viên Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TPHCM) trong ngày hội việc làm, tháng 10/2026. Ảnh: HCMUS.
Hoàn thiện dữ liệu, giảm gánh nặng báo cáo
Tạo đột phá trong quản trị bằng dữ liệu, chuyển đổi số và chủ động thích ứng với trí tuệ nhân tạo cũng là một trong bảy nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đề nghị ngành Giáo dục thực hiện trong thời gian tới tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026.
Theo đó, Bộ GD&ĐT cần xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục đại học “đúng, đủ, sạch, thống nhất, dùng chung”, khắc phục tình trạng một chỉ tiêu có nhiều cách hiểu, nhiều số liệu khác nhau. Dữ liệu phải phục vụ trực tiếp cho quản trị, dự báo, cảnh báo chất lượng, phân bổ nguồn lực và hoạch định chính sách. Đồng thời, cần giảm gánh nặng báo cáo cho các trường theo nguyên tắc dữ liệu được khai báo một lần, kết nối và sử dụng nhiều lần.
Tại Văn bản số 7314/BGDĐT-GDĐH về thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, ban hành ngày 16/10/2026, Bộ GD&ĐT tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin quản lý và cập nhật HEMIS. Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu thiết lập quản trị dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; chuẩn hóa mã định danh, nguồn dữ liệu, cách tính chỉ tiêu, phân công đầu mối cập nhật và người kiểm duyệt.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Sơn Hải cho biết thời gian tới, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung hoàn thành ba nhiệm vụ trọng tâm về dữ liệu.
Thứ nhất, các cơ sở phải rà soát, làm sạch và ký số dữ liệu trên HEMIS, hướng tới hoàn thiện 100% dữ liệu. Tính đến cuối tháng 9/2026, tỷ lệ hoàn thành đối với dữ liệu người học là 85%, dữ liệu đội ngũ cán bộ, giảng viên là 72,4% và tỷ lệ cơ sở hoàn thành là 68,5%.
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học phải hoàn thành kết nối API với HEMIS, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở được kết nối. Việc kết nối nhằm đồng bộ, cập nhật dữ liệu tự động ngay từ nơi phát sinh, thực hiện nguyên tắc “một lần tạo lập - nhiều lần sử dụng”.
Thứ ba, các cơ sở cần hoàn thành số hóa văn bằng lịch sử thuộc nhóm ưu tiên, tập trung vào những người sinh từ năm 1970 trở lại đây; đồng thời làm sạch, đối soát dữ liệu, gắn thông tin với số căn cước công dân và đưa văn bằng lên VNeID. Việc này góp phần thúc đẩy thực hiện thủ tục hành chính không giấy tờ.
Dữ liệu giáo dục đại học minh bạch mang đến lợi ích cho cả nhà trường và người học. Trong ảnh là thí sinh tìm hiểu thông tin tuyển sinh của Trường Đại học Công nghệ TPHCM. Ảnh: HUTECH.
Nền tảng dữ liệu đã hình thành, nhưng chưa đồng bộ
Tại Hội nghị Giáo dục đại học diễn ra mới đây tại TPHCM, ông Nguyễn Sơn Hải, Quyền Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT), cho biết 100% cơ sở giáo dục đại học hiện đã sử dụng phần mềm quản lý, quản trị nhà trường.
Dữ liệu được hình thành trong hầu hết hoạt động cốt lõi, từ đào tạo, tuyển sinh, khảo thí, công tác sinh viên đến khoa học và công nghệ, tài chính và các dịch vụ hỗ trợ người học. Theo ông Hải, đây là nguồn tài nguyên lớn, tạo tiền đề quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học chuyển đổi phương thức quản trị.
Ở cấp hệ thống, Hệ thống cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (HEMIS), được đưa vào sử dụng từ năm 2023, từng bước hình thành nền tảng dữ liệu dùng chung cho toàn hệ thống. Đến nay, HEMIS có dữ liệu của 470 cơ sở có đào tạo đại học, gần 200.000 hồ sơ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, cùng gần 2,9 triệu hồ sơ học tập của người học đang theo học.
Hệ thống đã góp phần cung cấp bức tranh tương đối toàn diện về quy mô và hoạt động của giáo dục đại học, tạo nền tảng cho đổi mới công tác quản lý nhà nước, thống kê và hoạch định chính sách.
Song song với đó, cơ sở dữ liệu văn bằng số quốc gia đang được hình thành, tập trung vào kết quả đầu ra quan trọng của quá trình đào tạo. Việc số hóa văn bằng được kỳ vọng tạo cơ sở đánh giá hiệu quả phát triển nguồn nhân lực, phục vụ công tác hoạch định chính sách đào tạo và phát triển nhân lực cho đất nước.
Tuy nhiên, dữ liệu tại nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn còn phân tán, thiếu liên thông; cơ sở dữ liệu tập trung và hồ sơ xuyên suốt của người học, cơ sở đào tạo chưa được hình thành đầy đủ. Dữ liệu văn bằng lịch sử cũng chưa đầy đủ. Đến ngày 29/9/2026, có 5,5 triệu văn bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ được số hóa, đạt 64%.
Theo đánh giá của lãnh đạo Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ GD&ĐT), dữ liệu hiện có giúp trả lời những câu hỏi về quy mô như có bao nhiêu cơ sở, chương trình đào tạo, sinh viên, giảng viên, nhà khoa học và người tốt nghiệp. Nhưng để đánh giá đầy đủ hiệu quả đào tạo, cần có thêm thông tin về nơi làm việc, mức độ phù hợp giữa công việc và ngành học, tình hình thiếu hoặc thừa nhân lực ở từng lĩnh vực, sự dịch chuyển lao động giữa các vùng cũng như hiệu quả đầu tư cho đào tạo.
Vì vậy, dữ liệu hiện vẫn chủ yếu phục vụ thống kê, báo cáo và quản lý hành chính, chưa được khai thác đầy đủ cho hoạt động quản trị và hoạch định chính sách. Điểm nghẽn không chỉ là thiếu dữ liệu, mà còn nằm ở chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối, khai thác dữ liệu.
Tân sinh viên khóa 2026 Trường Đại học Thủ Dầu Một (TPHCM) làm thủ tục nhập học. Ảnh: TDMU.
Minh bạch thông tin, nâng cao hiệu quả quản trị
Theo các chuyên gia tại các trường đại học, hoàn thiện hệ thống dữ liệu và công khai thông tin minh bạch là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng quản trị, góp phần phát triển giáo dục đại học.
ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công Thương TPHCM, cho rằng chuẩn hóa dữ liệu không chỉ là bài toán công nghệ mà còn thể hiện trách nhiệm minh bạch của các trường đối với người học và xã hội. Điều quan trọng không phải trường đại học công khai bao nhiêu số liệu, mà là những con số đó có phản ánh đúng chất lượng đào tạo và giúp người học đưa ra quyết định phù hợp hay không.
Ông Sơn dẫn ví dụ về tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp được nhiều trường công bố ở mức 95%, 99%, thậm chí 100%. Theo ông, cần làm rõ những con số này được xác định trên cơ sở khảo sát bao nhiêu sinh viên, tỷ lệ phản hồi ra sao, bao nhiêu người làm đúng ngành được đào tạo, thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp như thế nào. Nếu thiếu những thông tin này, tỷ lệ có việc làm dù cao cũng chưa phản ánh đầy đủ thực tế đầu ra.
Từ góc độ người học, thông tin công khai cần giúp học sinh và phụ huynh có cái nhìn rõ hơn trước khi lựa chọn trường, ngành. Họ cần biết không chỉ mức học phí mỗi học kỳ mà cả chi phí dự kiến toàn khóa; không chỉ tỷ lệ có việc làm mà còn cơ hội nghề nghiệp, thu nhập và khả năng phát triển sau tốt nghiệp.
Ông Sơn cho rằng sinh viên cần có quyền phản ánh, yêu cầu giải thích hoặc điều chỉnh những thông tin chưa chính xác liên quan đến mình. Nhà trường không thể yêu cầu người học chịu trách nhiệm với lựa chọn của họ nếu chưa cung cấp đầy đủ thông tin để họ đưa ra quyết định. Việc kết nối dữ liệu, trong đó có thể nghiên cứu khai thác thông tin qua VNeID, là một hướng có thể xem xét để hỗ trợ xác thực thông tin việc làm của người học.
Theo ông Sơn, yêu cầu minh bạch cần được thực hiện trên nhiều phương diện, từ tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ việc làm đến điều kiện cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Uy tín của một trường đại học không nằm ở những gì nhà trường tự giới thiệu, mà ở giá trị người học thực sự nhận được sau khi tốt nghiệp.
Không chỉ giúp người học có thêm thông tin để lựa chọn, dữ liệu được chuẩn hóa và kết nối còn tạo cơ sở để các trường nhìn lại chất lượng đào tạo, điều chỉnh chương trình và nâng cao hiệu quả quản trị.
Theo ông Phạm Thái Sơn, dữ liệu cần giúp nhà trường nhận diện những ngành học có sinh viên khó tìm việc, những chương trình cần điều chỉnh và các kỹ năng doanh nghiệp đang có nhu cầu. Tỷ lệ có việc làm và chất lượng việc làm của sinh viên là những căn cứ quan trọng để cải tiến chương trình đào tạo theo yêu cầu thực tế.
Muốn vậy, dữ liệu phải được kết nối, kiểm chứng và cập nhật thường xuyên, thay vì chỉ phục vụ thống kê, báo cáo. Các trường cần có thông tin đáng tin cậy về người học, đội ngũ giảng viên, chương trình đào tạo và kết quả đầu ra để phục vụ công tác quản trị.
Sinh viên Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TPHCM) trong ngày hội việc làm, tháng 10/2026. Ảnh: HCMUS.
Hoàn thiện dữ liệu, giảm gánh nặng báo cáo
Tạo đột phá trong quản trị bằng dữ liệu, chuyển đổi số và chủ động thích ứng với trí tuệ nhân tạo cũng là một trong bảy nhiệm vụ trọng tâm được Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đề nghị ngành Giáo dục thực hiện trong thời gian tới tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026.
Theo đó, Bộ GD&ĐT cần xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục đại học “đúng, đủ, sạch, thống nhất, dùng chung”, khắc phục tình trạng một chỉ tiêu có nhiều cách hiểu, nhiều số liệu khác nhau. Dữ liệu phải phục vụ trực tiếp cho quản trị, dự báo, cảnh báo chất lượng, phân bổ nguồn lực và hoạch định chính sách. Đồng thời, cần giảm gánh nặng báo cáo cho các trường theo nguyên tắc dữ liệu được khai báo một lần, kết nối và sử dụng nhiều lần.
Tại Văn bản số 7314/BGDĐT-GDĐH về thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm, ban hành ngày 16/10/2026, Bộ GD&ĐT tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin quản lý và cập nhật HEMIS. Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu thiết lập quản trị dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”; chuẩn hóa mã định danh, nguồn dữ liệu, cách tính chỉ tiêu, phân công đầu mối cập nhật và người kiểm duyệt.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Nguyễn Sơn Hải cho biết thời gian tới, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung hoàn thành ba nhiệm vụ trọng tâm về dữ liệu.
Thứ nhất, các cơ sở phải rà soát, làm sạch và ký số dữ liệu trên HEMIS, hướng tới hoàn thiện 100% dữ liệu. Tính đến cuối tháng 9/2026, tỷ lệ hoàn thành đối với dữ liệu người học là 85%, dữ liệu đội ngũ cán bộ, giảng viên là 72,4% và tỷ lệ cơ sở hoàn thành là 68,5%.
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học phải hoàn thành kết nối API với HEMIS, hướng tới mục tiêu 100% cơ sở được kết nối. Việc kết nối nhằm đồng bộ, cập nhật dữ liệu tự động ngay từ nơi phát sinh, thực hiện nguyên tắc “một lần tạo lập - nhiều lần sử dụng”.
Thứ ba, các cơ sở cần hoàn thành số hóa văn bằng lịch sử thuộc nhóm ưu tiên, tập trung vào những người sinh từ năm 1970 trở lại đây; đồng thời làm sạch, đối soát dữ liệu, gắn thông tin với số căn cước công dân và đưa văn bằng lên VNeID. Việc này góp phần thúc đẩy thực hiện thủ tục hành chính không giấy tờ.
Phát triển kỹ năng số tạo sinh kế cho thanh niên thoát nghèo bền vững
GD&TĐ - Ở vùng sâu, vùng xa, kỹ năng số có thể giúp thanh niên tiếp cận thông tin học nghề, tìm kiếm việc làm, từng bước tạo sinh kế thoát nghèo bền vững.
2026-10-28 02:31
Hải Phòng mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh cho học sinh THCS
GD&TĐ - Nhiều trường học tại Hải Phòng chủ động đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hoạt động giáo dục hướng tới đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.
2026-10-28 02:31
Trao 'lá chắn' cho học sinh trong kỷ nguyên số
GD&TĐ - Từ những mâu thuẫn tuổi học trò đến các thủ đoạn lừa đảo, dụ dỗ trên không gian mạng, học sinh đang đối diện với nhiều nguy cơ khó lường. Một buổi ngoại khóa tại Trường THCS Khương Đình (Hà Nội) đã mang đến những bài học thiết thực, giúp các em nhận diện rủi ro, làm chủ cảm xúc và hình thành kỹ năng tự bảo vệ trong kỷ nguyên số.
2026-10-28 02:30
Dữ liệu đại học 'đúng, đủ, sạch, sống': Lợi ích cho nhà trường và người học
GD&TĐ - Dữ liệu công khai, minh bạch góp phần quan trọng giúp nâng cao chất lượng quản trị nhà trường, bảo đảm quyền lợi thiết thực cho người học.
2026-10-28 02:30
Điều kiện bổ nhiệm từ giáo viên hạng II cũ sang hạng II mới
GD&TĐ - Độc giả đặt câu hỏi về điều kiện bổ nhiệm từ giáo viên hạng II cũ sang hạng II mới.
2026-10-28 02:30
Bộ GD&ĐT tập huấn công tác quốc phòng, quân sự năm 2026
GD&TĐ - Hơn 300 đại biểu tham gia tập huấn công tác quốc phòng, quân sự; phòng, chống khủng bố và phòng thủ dân sự năm 2026 do Bộ GD&ĐT tổ chức.
2026-10-28 02:29
Học sinh Việt Nam giành nhiều giải thưởng Kỳ thi Olympic Tài năng Hóa học Trẻ Thế giới
GD&TĐ - Tại Vòng Quốc tế Kỳ thi Olympic Tài năng Hóa học Trẻ Thế giới, học sinh Việt Nam giành nhiều giải thưởng, trong đó có cả Huy chương Vàng.
2026-10-28 02:29
Hiểu rõ về bản chất của hiện tượng để học tốt các môn tự nhiên
GD&TĐ - Để học tốt các môn khoa học tự nhiên như Hóa học hay Vật lí, học sinh cần hiểu rõ bản chất của hiện tượng thay vì chỉ là học vẹt, học thuộc lòng.
2026-10-28 02:29
Giáo viên định hướng học sinh ứng dụng AI để phát triển năng lực tự học
GD&TĐ - AI mở ra cách học mới, đòi hỏi giáo viên định hướng để học sinh chủ động tư duy, kiểm chứng và vận dụng thông tin.
2026-10-28 02:28
Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục trẻ nhà trẻ tại Đà Nẵng
GD&TĐ - Hoạt động tập huấn giúp cán bộ quản lý, giáo viên mầm non trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục phù hợp với trẻ.