GD&TĐ - Nhà giáo kỳ vọng việc số hoá bộ sách giáo khoa thống nhất, xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí sớm đi vào thực tiễn.
Thúc đẩy giáo dục chuyển đổi số bền vững
Theo ông Nguyễn Mai Trọng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học - THCS A Xing (xã Lìa, Quảng Trị), việc Bộ GD&ĐT triển khai số hóa toàn bộ sách giáo khoa thống nhất và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhà trường, giáo viên và học sinh, đặc biệt ở các vùng khó khăn.
Đối với nhà trường, đây là điều kiện quan trọng để tiếp cận nguồn học liệu chính thống, đồng bộ, cập nhật, qua đó nâng cao chất lượng quản lý và tổ chức dạy học; đồng thời giảm chi phí đầu tư học liệu giấy, tăng tính linh hoạt trong việc kết hợp dạy học trực tiếp và trực tuyến, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và từng bước hình thành môi trường giáo dục số.
Với giáo viên, hệ sinh thái học liệu số cung cấp nguồn tài nguyên phong phú để thiết kế bài giảng sinh động, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; góp phần giảm áp lực chuẩn bị học liệu, tạo điều kiện chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng số.
Đối với học sinh, học liệu số giúp các em tiếp cận đa dạng hình thức học tập như văn bản, hình ảnh, video, bài tập tương tác, từ đó tăng hứng thú và hiệu quả học tập; hỗ trợ tự học mọi lúc, mọi nơi, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền. Đặc biệt, mô hình này có ý nghĩa lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số khi tạo điều kiện học tập linh hoạt, trực quan và phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên) nhận định, chủ trương của Bộ GD&ĐT về số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho giáo dục phổ thông.
Hệ sinh thái học liệu số giúp nhà trường từng bước hiện đại hóa hoạt động dạy học, tiết kiệm chi phí đầu tư học liệu, tạo nền tảng xây dựng môi trường giáo dục số đồng bộ, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và tổ chức dạy học theo định hướng chuyển đổi số.
Việc tiếp cận nguồn học liệu chuẩn hóa, chính thống và đa dạng về hình thức như văn bản, hình ảnh, video hay học liệu tương tác sẽ hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; đồng thời giảm áp lực tự xây dựng học liệu rời rạc, manh mún.
Nguồn học liệu phong phú, miễn phí và dễ tiếp cận mọi lúc, mọi nơi giúp học sinh tăng cơ hội tự học, học tập cá nhân hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền, đặc biệt là các khu vực còn khó khăn.
Tổng thể, chủ trương này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và thúc đẩy chuyển đổi số ngành Giáo dục theo hướng bền vững.
Giờ học tại Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên).
Cần bảo đảm đủ điều kiện triển khai
Đưa góp ý, cô Đình Thị Thủy, giáo viên Trường THCS-THPT Phenikaa cho rằng, hệ sinh thái học liệu số dùng chung trong thời gian tới cần hướng đến tính tiện ích, dễ sử dụng, giao diện thân thiện và thẩm mỹ. Hệ thống cần vận hành ổn định, tránh tình trạng nghẽn đường truyền khi triển khai đồng loạt trên quy mô lớn.
Nguồn học liệu số phải phong phú, cập nhật thường xuyên, bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới và đặc biệt cần có đơn vị chuyên môn, thẩm quyền thẩm định chất lượng. Học liệu không chỉ truyền tải kiến thức mà còn góp phần định hướng nhận thức, hành vi, nhân cách cho người học trong môi trường số, bảo đảm tính giáo dục và nhân văn.
Theo ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên), để chủ động tiếp cận và triển khai hiệu quả chủ trương số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, các nhà trường cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, về hạ tầng và điều kiện kỹ thuật, cần từng bước đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, bảo đảm kết nối Internet ổn định và trang bị thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ khai thác học liệu số, phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.
Song song với đó, công tác bồi dưỡng đội ngũ cần được chú trọng, đặc biệt là nâng cao năng lực số cho giáo viên, kỹ năng khai thác, sử dụng và tích hợp học liệu số vào bài giảng; khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, linh hoạt trong tổ chức các hoạt động học tập.
Về tổ chức triển khai, nhà trường cần xây dựng kế hoạch cụ thể, có lộ trình phù hợp; lồng ghép việc sử dụng học liệu số vào sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, thao giảng, đồng thời phát huy vai trò của tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên nòng cốt.
Cùng với đó, công tác quản lý và định hướng cũng đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi nhà trường ban hành các quy định, hướng dẫn sử dụng học liệu số đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ các quy định về bản quyền, đạo đức, văn hóa trong môi trường số.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng, quá trình triển khai chủ trương này cũng có thể phát sinh không ít khó khăn, thách thức.
Đó là sự không đồng đều về hạ tầng và thiết bị giữa các trường, các địa phương; một bộ phận học sinh chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ thiết bị học tập số. Bên cạnh đó, năng lực số của đội ngũ giáo viên còn chưa đồng đều, một số giáo viên còn tâm lý e ngại thay đổi, chưa quen với việc dạy học trên môi trường số.
Khối lượng học liệu lớn, nếu thiếu hướng dẫn khai thác khoa học, cũng có thể gây quá tải, lúng túng trong lựa chọn và sử dụng. Ngoài ra, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bản quyền và chất lượng nội dung đặt ra đòi hỏi nhà trường và giáo viên phải tuân thủ nghiêm các quy định hiện hành.
“Đây là những khó khăn mang tính tất yếu trong giai đoạn chuyển đổi và cần được nhìn nhận khách quan để từng bước tháo gỡ”, ông Nguyễn Văn Hoàng cho hay.
Cô Đình Thị Thủy, giáo viên Trường THCS-THPT Phenikaa trong giờ Ngữ văn.
Thúc đẩy giáo dục chuyển đổi số bền vững
Theo ông Nguyễn Mai Trọng, Hiệu trưởng Trường Tiểu học - THCS A Xing (xã Lìa, Quảng Trị), việc Bộ GD&ĐT triển khai số hóa toàn bộ sách giáo khoa thống nhất và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhà trường, giáo viên và học sinh, đặc biệt ở các vùng khó khăn.
Đối với nhà trường, đây là điều kiện quan trọng để tiếp cận nguồn học liệu chính thống, đồng bộ, cập nhật, qua đó nâng cao chất lượng quản lý và tổ chức dạy học; đồng thời giảm chi phí đầu tư học liệu giấy, tăng tính linh hoạt trong việc kết hợp dạy học trực tiếp và trực tuyến, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số và từng bước hình thành môi trường giáo dục số.
Với giáo viên, hệ sinh thái học liệu số cung cấp nguồn tài nguyên phong phú để thiết kế bài giảng sinh động, đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; góp phần giảm áp lực chuẩn bị học liệu, tạo điều kiện chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm chuyên môn, đồng thời nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và kỹ năng số.
Đối với học sinh, học liệu số giúp các em tiếp cận đa dạng hình thức học tập như văn bản, hình ảnh, video, bài tập tương tác, từ đó tăng hứng thú và hiệu quả học tập; hỗ trợ tự học mọi lúc, mọi nơi, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền. Đặc biệt, mô hình này có ý nghĩa lớn đối với học sinh dân tộc thiểu số khi tạo điều kiện học tập linh hoạt, trực quan và phù hợp hơn với điều kiện thực tế.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên) nhận định, chủ trương của Bộ GD&ĐT về số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, miễn phí là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho giáo dục phổ thông.
Hệ sinh thái học liệu số giúp nhà trường từng bước hiện đại hóa hoạt động dạy học, tiết kiệm chi phí đầu tư học liệu, tạo nền tảng xây dựng môi trường giáo dục số đồng bộ, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị và tổ chức dạy học theo định hướng chuyển đổi số.
Việc tiếp cận nguồn học liệu chuẩn hóa, chính thống và đa dạng về hình thức như văn bản, hình ảnh, video hay học liệu tương tác sẽ hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh; đồng thời giảm áp lực tự xây dựng học liệu rời rạc, manh mún.
Nguồn học liệu phong phú, miễn phí và dễ tiếp cận mọi lúc, mọi nơi giúp học sinh tăng cơ hội tự học, học tập cá nhân hóa, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức giữa các vùng miền, đặc biệt là các khu vực còn khó khăn.
Tổng thể, chủ trương này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và thúc đẩy chuyển đổi số ngành Giáo dục theo hướng bền vững.
Giờ học tại Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên).
Cần bảo đảm đủ điều kiện triển khai
Đưa góp ý, cô Đình Thị Thủy, giáo viên Trường THCS-THPT Phenikaa cho rằng, hệ sinh thái học liệu số dùng chung trong thời gian tới cần hướng đến tính tiện ích, dễ sử dụng, giao diện thân thiện và thẩm mỹ. Hệ thống cần vận hành ổn định, tránh tình trạng nghẽn đường truyền khi triển khai đồng loạt trên quy mô lớn.
Nguồn học liệu số phải phong phú, cập nhật thường xuyên, bám sát chương trình giáo dục phổ thông mới và đặc biệt cần có đơn vị chuyên môn, thẩm quyền thẩm định chất lượng. Học liệu không chỉ truyền tải kiến thức mà còn góp phần định hướng nhận thức, hành vi, nhân cách cho người học trong môi trường số, bảo đảm tính giáo dục và nhân văn.
Theo ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Huệ (Hưng Yên), để chủ động tiếp cận và triển khai hiệu quả chủ trương số hóa sách giáo khoa và xây dựng hệ sinh thái học liệu số dùng chung, các nhà trường cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, về hạ tầng và điều kiện kỹ thuật, cần từng bước đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, bảo đảm kết nối Internet ổn định và trang bị thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ khai thác học liệu số, phù hợp với điều kiện thực tế của từng cơ sở giáo dục.
Song song với đó, công tác bồi dưỡng đội ngũ cần được chú trọng, đặc biệt là nâng cao năng lực số cho giáo viên, kỹ năng khai thác, sử dụng và tích hợp học liệu số vào bài giảng; khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, linh hoạt trong tổ chức các hoạt động học tập.
Về tổ chức triển khai, nhà trường cần xây dựng kế hoạch cụ thể, có lộ trình phù hợp; lồng ghép việc sử dụng học liệu số vào sinh hoạt chuyên môn, dự giờ, thao giảng, đồng thời phát huy vai trò của tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên nòng cốt.
Cùng với đó, công tác quản lý và định hướng cũng đóng vai trò quan trọng, đòi hỏi nhà trường ban hành các quy định, hướng dẫn sử dụng học liệu số đúng mục đích, hiệu quả, bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ các quy định về bản quyền, đạo đức, văn hóa trong môi trường số.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng, quá trình triển khai chủ trương này cũng có thể phát sinh không ít khó khăn, thách thức.
Đó là sự không đồng đều về hạ tầng và thiết bị giữa các trường, các địa phương; một bộ phận học sinh chưa có điều kiện tiếp cận đầy đủ thiết bị học tập số. Bên cạnh đó, năng lực số của đội ngũ giáo viên còn chưa đồng đều, một số giáo viên còn tâm lý e ngại thay đổi, chưa quen với việc dạy học trên môi trường số.
Khối lượng học liệu lớn, nếu thiếu hướng dẫn khai thác khoa học, cũng có thể gây quá tải, lúng túng trong lựa chọn và sử dụng. Ngoài ra, yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bản quyền và chất lượng nội dung đặt ra đòi hỏi nhà trường và giáo viên phải tuân thủ nghiêm các quy định hiện hành.
“Đây là những khó khăn mang tính tất yếu trong giai đoạn chuyển đổi và cần được nhìn nhận khách quan để từng bước tháo gỡ”, ông Nguyễn Văn Hoàng cho hay.
Hướng nghiệp để học sinh khuyết tật nhìn tự tin, tự lập
GD&TĐ - Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu (TPHCM) chú trọng hướng nghiệp, rèn kỹ năng, giúp học sinh khuyết tật nhìn tự tin, tự lập.
2026-09-09 10:18
Chọn nghề, mở lối tương lai
GD&TĐ - Không chạy theo lựa chọn số đông, nhiều bạn trẻ chọn học nghề như một con đường để rút ngắn thời gian học tập, sớm tham gia thị trường lao động.
2026-09-09 10:18
Để Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động đúng vai trò, đúng trách nhiệm
GD&TĐ - Quy định mới cần rõ vai trò, trách nhiệm của Ban đại diện cha mẹ học sinh, để tổ chức này thực sự trở thành cầu nối giữa gia đình và nhà trường.
2026-09-09 10:17
Đào tạo nghề giúp người dân vùng biên từ 'biết việc' đến có sinh kế
GD&TĐ - Gắn kết đào tạo nghề cho người dân vùng biên giúp người lao động từ biết nghề đến có việc làm ổn định, nâng cao đời sống cộng đồng.
2026-09-09 07:51
Đẩy mạnh hơn nữa vai trò của giáo viên chủ nhiệm và Tổ tư vấn học đường
GD&TĐ - Đây là yêu cầu của Sở GD&ĐT TPHCM sau vụ việc 1 học sinh tác động làm 5 học sinh bị thương tại Trường THCS-THPT Thạnh An (TPHCM).
2026-09-09 07:49
Gắn đào tạo nghề với sinh kế bền vững
GD&TĐ - Đào tạo nghề gắn với việc làm đang trở thành “cần câu” giúp người nghèo, cận nghèo có sinh kế, nâng cao thu nhập và chủ động vươn lên.
2026-09-09 07:49
Đa dạng hóa phương thức giáo dục nghề nghiệp để khớp nối cung - cầu lao động
GD&TĐ - Cơ sở giáo dục cần phát huy vai trò cầu nối để giúp doanh nghiệp tiếp cận đúng nhân lực, người học chọn đúng việc làm.
2026-09-09 07:48
‘Ngôi nhà thứ hai’ khang trang của học sinh dân tộc nội trú Lâm Đồng
GD&TĐ - Năm học mới, hàng trăm học sinh Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Lâm Đồng được chuyển sang khu ký túc xá khang trang, sạch sẽ.
2026-09-09 07:48
Đào tạo nghề vùng khó đi cùng sinh kế của người học yếu thế
GD&TĐ - Đào tạo nghề cho người yếu thế cần vượt khỏi mục tiêu cấp chứng chỉ, hướng tới việc làm, tăng thu nhập và khả năng tự tạo sinh kế.
2026-09-09 07:47
Học nghề trong nhịp đổi mới công nghệ
GD&TĐ - Đầu tư thiết bị, đổi mới chương trình, nâng chất đội ngũ đang từng bước nâng chất lượng và sức hút của giáo dục nghề nghiệp.