Chuyên gia góp ý hoàn thiện khung pháp lý ứng dụng AI trong giáo dục đại học
2026/05/20 17:17
GD&TĐ - Chuyên gia đề xuất làm rõ đạo đức AI, cơ chế giám sát và phát triển năng lực số cho giảng viên trong giáo dục đại học.
Cùng với các văn bản được ban hành trước đây, Dự thảo Thông tư quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thiết lập hành lang pháp lý cho việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số vào hệ thống giáo dục đại học của đất nước.
Bên cạnh những đánh giá tích cực về dự thảo, TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội đồng thời đưa ra một số góp ý nhằm hoàn thiện dự thảo này.
Hướng dẫn chi tiết về đạo đức AI
TS Tôn Quang Cường.
Trong dự thảo có đề cập đến “nguyên tắc đạo đức” và “đạo đức công nghệ”. Tuy nhiên, việc chưa có hướng dẫn cụ thể về các nguyên tắc đạo đức AI trong giáo dục đại học (ví dụ: công bằng, không thiên vị, bảo vệ quyền riêng tư, trách nhiệm giải trình…) có thể gây khó khăn trong cách hiểu và thực thi cơ chế đánh giá tác động đạo đức của AI trong hoạt động tổng thể của cơ sở giáo dục đại học.
Đưa quan điểm nói trên, TS Tôn Quang Cường cho rằng, yêu cầu “minh bạch, đúng chuẩn mực học thuật” là một trong những thách thức lớn nhất khi tích hợp AI vào giáo dục.
Tuy nhiên, các chuẩn mực học thuật truyền thống có thể không hoàn toàn phù hợp với sự xuất hiện của AI. Do đó, cần có sự thảo luận và thống nhất rộng rãi để định nghĩa lại liêm chính học thuật trong bối cảnh mới. Ví dụ như việc sử dụng AI để khởi tạo ý tưởng, dùng AI để hỗ trợ dịch thuật (chuyển ngữ) có được coi là gian lận không? Việc chỉnh sửa văn bản (bao gồm cả tạo mới văn bản) do AI tạo ra đến mức độ nào là được chấp nhận?...
Dự thảo có đề cập đến vấn đề minh bạch về việc sử dụng AI (yêu cầu công bố sử dụng AI) là quan trọng. Nhưng TS Tôn Quang Cường góp ý cần làm rõ mức độ và hình thức công bố. Ví dụ, sinh viên cần công bố rõ ràng phần nào của bài làm được hỗ trợ bởi AI. Cũng tương tự, giảng viên cần minh bạch về việc sử dụng AI trong thiết kế bài giảng hay đánh giá.
Cùng với đó, dự thảo khuyến khích “ứng dụng công nghệ để phát hiện gian lận”. Tuy nhiên, các công cụ này vẫn còn nhiều hạn chế và có thể gây ra kết quả sai lệch (vì bản thân các công cụ này cũng sử dụng 2 yếu tố cơ bản của cơ chế vận hành AI: dữ liệu lớn và mô hình suy luận). Việc quá phụ thuộc vào công nghệ để phát hiện gian lận có thể dẫn đến những vấn đề về công bằng và quyền riêng tư.
Cụ thể hơn về trách nhiệm giải trình và giám sát của con người
TS Tôn Quang Cường đồng thời nhấn mạnh, trong nguyên tắc cơ bản khi sử dụng AI vai trò trung tâm của con người cần được nhấn mạnh như yếu tố tiên quyết.
Dự thảo nêu: Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên; minh bạch, có thể giải trình; không làm sai lệch kết quả học tập; tuân thủ liêm chính học thuật và có cơ chế kiểm soát, giám sát.
Tuy nhiên, cơ chế “kiểm soát, giám sát” cần được cụ thể hóa hơn để có thể tiếp cận, chủ động thích ứng và có các biện pháp cần thiết, đặc biệt đối với các hệ thống AI rủi ro cao (bao gồm AI trong giáo dục).
Việc đặt ra các yêu cầu “giám sát của con người” một cách có ý nghĩa, cụ thể và khoa học sẽ đảm bảo con người có khả năng can thiệp và kiểm soát các quyết định của AI trong những trường hợp cần thiết.
Đối với các hệ thống AI được sử dụng trong các hoạt động quan trọng như đánh giá sinh viên, cần quy định rõ ràng về vai trò của giảng viên trong việc giám sát, kiểm tra và can thiệp vào các quyết định của AI. Điều này có thể bao gồm việc yêu cầu giảng viên xem xét lại các kết quả do AI tạo ra hoặc có quyền “ghi đè” (thậm chí trao quyền loại bỏ) lên các quyết định của AI khi cần thiết.
Phát triển năng lực số cho giảng viên
Một nội dung khác được TS Tôn Quang Cường nhấn mạnh là phát triển năng lực số cho giảng viên. Trong dự thảo có đề cập đến phát triển năng lực số và năng lực AI cho nhà giáo, nhưng cần nhấn mạnh hơn vào việc trang bị cho giảng viên kỹ năng sư phạm để tích hợp AI một cách hiệu quả trong hoạt động chức năng chứ không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng công nghệ.
Theo TS Tôn Quang Cường, bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay, việc ứng dụng AI trong dạy học không chỉ thúc đẩy hiệu quả mà còn làm thay đổi cấu trúc sư phạm, thiết kế dạy học. Vai trò của giảng viên sẽ chuyển từ người truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn, cố vấn và thiết kế trải nghiệm học tập với những thay đổi lớn về tư duy và kỹ năng sư phạm.
Điều này bao gồm khả năng thiết kế lại bài giảng, bài tập, và phương pháp đánh giá để tận dụng sức mạnh của AI, phòng ngừa các rủi ro liên quan đến liêm chính học thuật. Đồng thời điều này cũng dẫn đến yêu cầu cần xây dựng Khung năng lực số đội ngũ của các cơ sở giáo dục đại học trong thời gian tới.
Hơn nữa, cần có cơ chế rõ ràng để thu thập phản hồi từ giảng viên, sinh viên và các bên liên quan về hiệu quả và thách thức của việc ứng dụng AI để có thể điều chỉnh, cập nhật chính sách kịp thời.
Ứng dụng công nghệ trong dạy học tại Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội.
Cùng với các văn bản được ban hành trước đây, Dự thảo Thông tư quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học của Bộ GD&ĐT đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thiết lập hành lang pháp lý cho việc tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số vào hệ thống giáo dục đại học của đất nước.
Bên cạnh những đánh giá tích cực về dự thảo, TS Tôn Quang Cường - Chủ nhiệm khoa Công nghệ giáo dục, Trường ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội đồng thời đưa ra một số góp ý nhằm hoàn thiện dự thảo này.
Hướng dẫn chi tiết về đạo đức AI
TS Tôn Quang Cường.
Trong dự thảo có đề cập đến “nguyên tắc đạo đức” và “đạo đức công nghệ”. Tuy nhiên, việc chưa có hướng dẫn cụ thể về các nguyên tắc đạo đức AI trong giáo dục đại học (ví dụ: công bằng, không thiên vị, bảo vệ quyền riêng tư, trách nhiệm giải trình…) có thể gây khó khăn trong cách hiểu và thực thi cơ chế đánh giá tác động đạo đức của AI trong hoạt động tổng thể của cơ sở giáo dục đại học.
Đưa quan điểm nói trên, TS Tôn Quang Cường cho rằng, yêu cầu “minh bạch, đúng chuẩn mực học thuật” là một trong những thách thức lớn nhất khi tích hợp AI vào giáo dục.
Tuy nhiên, các chuẩn mực học thuật truyền thống có thể không hoàn toàn phù hợp với sự xuất hiện của AI. Do đó, cần có sự thảo luận và thống nhất rộng rãi để định nghĩa lại liêm chính học thuật trong bối cảnh mới. Ví dụ như việc sử dụng AI để khởi tạo ý tưởng, dùng AI để hỗ trợ dịch thuật (chuyển ngữ) có được coi là gian lận không? Việc chỉnh sửa văn bản (bao gồm cả tạo mới văn bản) do AI tạo ra đến mức độ nào là được chấp nhận?...
Dự thảo có đề cập đến vấn đề minh bạch về việc sử dụng AI (yêu cầu công bố sử dụng AI) là quan trọng. Nhưng TS Tôn Quang Cường góp ý cần làm rõ mức độ và hình thức công bố. Ví dụ, sinh viên cần công bố rõ ràng phần nào của bài làm được hỗ trợ bởi AI. Cũng tương tự, giảng viên cần minh bạch về việc sử dụng AI trong thiết kế bài giảng hay đánh giá.
Cùng với đó, dự thảo khuyến khích “ứng dụng công nghệ để phát hiện gian lận”. Tuy nhiên, các công cụ này vẫn còn nhiều hạn chế và có thể gây ra kết quả sai lệch (vì bản thân các công cụ này cũng sử dụng 2 yếu tố cơ bản của cơ chế vận hành AI: dữ liệu lớn và mô hình suy luận). Việc quá phụ thuộc vào công nghệ để phát hiện gian lận có thể dẫn đến những vấn đề về công bằng và quyền riêng tư.
Cụ thể hơn về trách nhiệm giải trình và giám sát của con người
TS Tôn Quang Cường đồng thời nhấn mạnh, trong nguyên tắc cơ bản khi sử dụng AI vai trò trung tâm của con người cần được nhấn mạnh như yếu tố tiên quyết.
Dự thảo nêu: Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm hỗ trợ, không thay thế vai trò của giảng viên; minh bạch, có thể giải trình; không làm sai lệch kết quả học tập; tuân thủ liêm chính học thuật và có cơ chế kiểm soát, giám sát.
Tuy nhiên, cơ chế “kiểm soát, giám sát” cần được cụ thể hóa hơn để có thể tiếp cận, chủ động thích ứng và có các biện pháp cần thiết, đặc biệt đối với các hệ thống AI rủi ro cao (bao gồm AI trong giáo dục).
Việc đặt ra các yêu cầu “giám sát của con người” một cách có ý nghĩa, cụ thể và khoa học sẽ đảm bảo con người có khả năng can thiệp và kiểm soát các quyết định của AI trong những trường hợp cần thiết.
Đối với các hệ thống AI được sử dụng trong các hoạt động quan trọng như đánh giá sinh viên, cần quy định rõ ràng về vai trò của giảng viên trong việc giám sát, kiểm tra và can thiệp vào các quyết định của AI. Điều này có thể bao gồm việc yêu cầu giảng viên xem xét lại các kết quả do AI tạo ra hoặc có quyền “ghi đè” (thậm chí trao quyền loại bỏ) lên các quyết định của AI khi cần thiết.
Phát triển năng lực số cho giảng viên
Một nội dung khác được TS Tôn Quang Cường nhấn mạnh là phát triển năng lực số cho giảng viên. Trong dự thảo có đề cập đến phát triển năng lực số và năng lực AI cho nhà giáo, nhưng cần nhấn mạnh hơn vào việc trang bị cho giảng viên kỹ năng sư phạm để tích hợp AI một cách hiệu quả trong hoạt động chức năng chứ không chỉ dừng lại ở kỹ năng sử dụng công nghệ.
Theo TS Tôn Quang Cường, bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay, việc ứng dụng AI trong dạy học không chỉ thúc đẩy hiệu quả mà còn làm thay đổi cấu trúc sư phạm, thiết kế dạy học. Vai trò của giảng viên sẽ chuyển từ người truyền đạt kiến thức sang người hướng dẫn, cố vấn và thiết kế trải nghiệm học tập với những thay đổi lớn về tư duy và kỹ năng sư phạm.
Điều này bao gồm khả năng thiết kế lại bài giảng, bài tập, và phương pháp đánh giá để tận dụng sức mạnh của AI, phòng ngừa các rủi ro liên quan đến liêm chính học thuật. Đồng thời điều này cũng dẫn đến yêu cầu cần xây dựng Khung năng lực số đội ngũ của các cơ sở giáo dục đại học trong thời gian tới.
Hơn nữa, cần có cơ chế rõ ràng để thu thập phản hồi từ giảng viên, sinh viên và các bên liên quan về hiệu quả và thách thức của việc ứng dụng AI để có thể điều chỉnh, cập nhật chính sách kịp thời.
Hơn 10.000 sinh viên được tiếp cận giáo dục về năng lượng xanh và AI
GD&TĐ - Dự án “Vì một hành tinh xanh và Giáo dục AI – Kiến tạo tương lai” giai đoạn 2024 - 2026 mang cơ hội học tập, trải nghiệm cho hơn 10.560 sinh viên.
2026-09-02 14:37
Cuộc thi Hồn Việt qua Ống kính Tuổi trẻ cho học sinh THPT chính thức trở lại
GD&TĐ - Cuộc thi nhiếp ảnh Hồn Việt qua Ống kính Tuổi trẻ 2026 chính thức trở lại với chủ đề “Ánh sáng”, dành cho học sinh THPT từ 16-18 tuổi trên toàn quốc.
2026-09-02 14:37
Những dấu ấn Toán học được kể bằng phiên bản đặc biệt
GD&TĐ - Bộ sưu tập giới hạn “Hoàng Xuân Sính” 2026 có gì đặc biệt khi những công thức Toán học bước ra khỏi trang luận án?
2026-09-02 14:36
Bệnh viện Bình Dân hỗ trợ BVĐK Bà Rịa nâng cao năng lực phẫu thuật, quản trị
GD&TĐ - Bệnh viện Bình Dân triển khai chương trình hỗ trợ toàn diện cho Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa nhằm nâng cao năng lực phẫu thuật và quản lý y tế.
2026-09-02 14:36
4 trường nội trú vùng biên Quảng Ngãi sẵn sàng đón học sinh ngày khai giảng
GD&TĐ - Sau hơn 8 tháng khẩn trương thi công, 4 trường nội trú liên cấp vùng biên Quảng Ngãi cơ bản hoàn thiện, sẵn sàng đón học sinh năm học mới.
2026-09-02 14:36
Nguồn nhân lực chất lượng cao: Lợi thế cạnh tranh quốc gia
GD&TĐ - Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.
2026-09-02 14:35
Trường học rộn ràng không khí chào đón 81 năm Quốc khánh
GD&TĐ - Nhân dịp 81 năm Quốc khánh 2/9, các trường học trên cả nước được trang trí cờ hoa rực rỡ và nhiều hoạt động bổ ích cho học sinh.
2026-09-02 14:35
Mở lối phát triển cho học sinh dân tộc thiểu số từ chính nội lực địa phương
GD&TĐ - Sinh ra trong gia đình vùng cao đông con, cô gái người Thái Thùng Thị Kim Chi vượt khó theo đuổi ước mơ sư phạm.
2026-09-02 14:35
Trao cơ hội để thế hệ trẻ vùng cao phát triển nghề truyền thống của địa phương
GD&TĐ - Lớn lên ở mảnh đất cực Tây của Tổ quốc, nữ sinh người Thái, Đinh Lò My Duyên có ước mơ lan tỏa văn hóa phục trang của đồng bào dân tộc thiểu số.
2026-09-02 14:35
Ninh Bình thí điểm Chương trình giáo dục mầm non mới tại 15 trường
GD&TĐ - Ninh Bình tập trung bổ sung đội ngũ, đầu tư cơ sở vật chất, chuẩn bị phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo 3-5 tuổi.